Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam: Kinh nghiệm từ Đại học Tokyo

Đối với doanh nghiệp công nghệ bắt nguồn từ nghiên cứu, khả năng tiếp cận khách hàng, doanh nghiệp, đối tác công nghiệp và thị trường quốc tế mới quyết định công nghệ có thể phát triển thành doanh nghiệp quy mô lớn hay không…

Việt Nam đang đứng trước yêu cầu xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh để biến nghiên cứu, công nghệ và nguồn nhân lực thành các doanh nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế. Theo ông Takeo Nakajima, người phụ trách các chương trình tăng trưởng startup và thúc đẩy hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp tại Đại học Tokyo, đồng thời là cựu Trưởng đại diện JETRO Hà Nội, bài học đầu tiên đối với Việt Nam là không nên nhìn hệ sinh thái đổi mới sáng tạo như một sản phẩm có thể tạo ra bằng một chương trình hoặc một khoản đầu tư trong vài năm. Tại Đại học Tokyo, nền móng của hệ sinh thái hiện nay được xây dựng qua nhiều giai đoạn.

KINH NGHIỆM ĐƯA NGHIÊN CỨU THÀNH DOANH NGHIỆP CỦA ĐẠI HỌC TOKYO

Ông Nakajima cho biết một dấu mốc quan trọng là năm 1998, khi Đại học Tokyo thành lập Trung tâm ươm tạo CASTI và được chứng nhận là Tổ chức Chuyển giao Công nghệ (TLO), qua đó thiết lập cơ chế quản lý, bảo hộ và cấp phép tài sản trí tuệ, đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm. Năm 2004, trong bối cảnh các trường đại học quốc gia Nhật Bản chuyển đổi thành pháp nhân độc lập, trường tiếp tục củng cố năng lực hỗ trợ khởi nghiệp bằng việc thành lập UTEC (University of Tokyo Edge Capital Partners) – một quỹ đầu tư mạo hiểm giai đoạn hạt giống và đầu vào nhằm thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Việc xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đòi hỏi sự kiên nhẫn, tính liên tục và cam kết dài hạn từ nhiều bên.

Đến năm 2016, UTokyo Innovation Platform (UTokyo IPC) được thành lập như một nền tảng kết nối và đầu tư, liên kết trường với các quỹ, doanh nghiệp và đối tác bên ngoài; từ năm 2017, UTokyo IPC triển khai chương trình ươm tạo 1stRound để hỗ trợ các startup ở giai đoạn rất sớm.

“Thành công này không đạt được trong một sớm một chiều”, ông Nakajima nhấn mạnh, đồng thời cho rằng việc xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đòi hỏi sự kiên nhẫn, tính liên tục và cam kết dài hạn từ nhiều bên.

Theo ông, đây cũng là bài học quan trọng đối với Việt Nam khi các khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo và chương trình hỗ trợ startup đang được mở rộng. Ông Nakajima cho biết không nên chỉ đánh giá một hệ sinh thái bằng số lượng doanh nghiệp hay cơ sở vật chất được hình thành trong một vài năm. Điều quan trọng hơn là những thiết chế hỗ trợ đó có thể tồn tại, được cải thiện và liên kết với nhau trong thời gian đủ dài hay không.

NGHIÊN CỨU TỐT CHƯA ĐỦ, PHẢI CÓ VỐN, IP VÀ NGƯỜI BIẾT LÀM KINH DOANH

Theo ông Nakajima, sở hữu một cụm nghiên cứu hàng đầu thế giới không đồng nghĩa với việc các nhà khoa học sẽ tự động có tinh thần hoặc kỹ năng khởi nghiệp. “Có được cụm nghiên cứu tốt nhất thế giới cũng không tự động chuyển hóa thành tinh thần khởi nghiệp”, ông nói.

Ông Takeo Nakajima, cựu Trưởng đại diện tại Hà Nội của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO). Ảnh: JETRO

Ông Takeo Nakajima, cựu Trưởng đại diện tại Hà Nội của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO). Ảnh: JETRO

Vì vậy, Đại học Tokyo đã xây dựng hệ thống hỗ trợ gần như toàn bộ vòng đời của một startup, từ giáo dục khởi nghiệp, ươm tạo, sở hữu trí tuệ, đầu tư cho đến mở rộng thị trường quốc tế. Theo tài liệu của trường, hệ sinh thái này hiện có các tổ chức chuyên biệt phụ trách chuyển giao công nghệ, đầu tư và hỗ trợ startup, trong đó UTEC đã đầu tư khoảng 150 công ty, với 20 IPO và 20 thương vụ M&A theo số liệu công bố đến năm 2024.

Điểm đáng chú ý là Đại học Tokyo không chỉ giải bài toán vốn bằng các quỹ đầu tư. Ông Nakajima cho biết trường đặc biệt quan tâm tới “vòng gọi vốn đầu tiên”, giai đoạn mà nhiều dự án nghiên cứu dễ bị mắc kẹt nhất. UTokyo IPC tổ chức chương trình này hai lần mỗi năm, lựa chọn khoảng 8 nhóm dự án mỗi đợt. Các nhóm được tài trợ không hoàn lại và nhận cố vấn trong nhiều tháng từ nhà đầu tư, chuyên gia để học cách biến một ý tưởng khoa học thành mô hình kinh doanh.

Ông Nakajima cho rằng đây là khoảng trống Việt Nam cần nhìn rõ khi phát triển startup deep tech. Một nhà khoa học có thể sở hữu công nghệ, bằng sáng chế hoặc kết quả nghiên cứu tiềm năng, nhưng chưa chắc có khả năng xây dựng doanh nghiệp, tìm khách hàng hay gọi vốn. Nếu thiếu những tổ chức đứng giữa phòng thí nghiệm và thị trường, nhiều công nghệ có thể tiếp tục nằm trong viện nghiên cứu mà không trở thành sản phẩm.

Theo ông Nakajima, từ năm 2025, Đại học Tokyo còn phối hợp với Mitsubishi triển khai chương trình ươm tạo công nghệ, kết hợp công nghệ của trường với kinh nghiệm công nghiệp và mạng lưới kinh doanh toàn cầu của doanh nghiệp. Chương trình hỗ trợ vốn cho các dự án được lựa chọn.

MẠNG LƯỚI THƯƠNG MẠI: MẮT XÍCH QUAN TRỌNG VỚI STARTUP VIỆT NAM

Một trong những thông điệp đáng chú ý nhất của ông Nakajima là vốn không phải yếu tố duy nhất quyết định thành công của startup. Đối với doanh nghiệp công nghệ bắt nguồn từ nghiên cứu, khả năng tiếp cận khách hàng, doanh nghiệp, đối tác công nghiệp và thị trường quốc tế mới quyết định công nghệ có thể phát triển thành doanh nghiệp quy mô lớn hay không.

Vốn không phải yếu tố duy nhất quyết định thành công của startup. Khả năng tiếp cận khách hàng, doanh nghiệp, đối tác công nghiệp và thị trường quốc tế mới quyết định công nghệ có thể phát triển thành doanh nghiệp quy mô lớn hay không.

Đây là điểm Việt Nam có thể rút ra nhiều bài học khi phát triển các khu công nghệ cao và trung tâm đổi mới sáng tạo. Theo ông Nakajima, những khu vực này không nên chỉ được xem là nơi tập trung doanh nghiệp, phòng nghiên cứu hay cơ sở hạ tầng. Giá trị lớn hơn phải nằm ở khả năng kết nối nghiên cứu, sở hữu trí tuệ, vốn, doanh nghiệp, nhân lực và thị trường trong một hệ sinh thái dài hạn.

Kinh nghiệm Đại học Tokyo cho thấy một hệ sinh thái cũng không nhất thiết phải bị giới hạn bởi một địa điểm địa lý. Campus Hongo và Kashiwa cách nhau khoảng 35 km nhưng đều có thể phát triển thành các trung tâm nghiên cứu quan trọng. Điều đó gợi ý rằng với Việt Nam, bài toán không nhất thiết là gom tất cả nguồn lực vào một khu vực, mà quan trọng hơn là tạo ra mạng lưới liên kết hiệu quả giữa trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, nhà đầu tư và thị trường.

Đại học Tokyo hiện tiếp tục mở rộng mạng lưới hỗ trợ startup với sự tham gia của trường đại học, cơ quan chính phủ, nhà đầu tư và doanh nghiệp. Các quỹ của trường cũng ngày càng tập trung vào việc đưa công nghệ từ học thuật ra xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực deep tech. Đến tháng 3/2026, Đại học Tokyo đã có 743 công ty spin-off, trong đó 35 doanh nghiệp đã IPO.

Theo ông Nakajima, Việt Nam có những lợi thế đáng kể về năng lực kỹ thuật, công nghệ số, sản xuất và tinh thần khởi nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển các khu công nghệ cao và trung tâm đổi mới sáng tạo. Nhưng để những lợi thế đó chuyển thành năng lực cạnh tranh dài hạn, Việt Nam cần một hệ sinh thái kết nối được nghiên cứu với sở hữu trí tuệ, vốn, doanh nghiệp và thị trường.

Bảo Bình

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/techconnect/xay-dung-he-sinh-thai-doi-moi-sang-tao-viet-nam-kinh-nghiem-tu-dai-hoc-tokyo.htm