Xử lý tội phạm môi trường trong giai đoạn mới: Từ 'tấm lưới pháp lý' đến hiệu lực thực thi
Không còn là những hành vi vi phạm đơn lẻ, tội phạm về môi trường hiện nay đã chuyển sang có tổ chức, có cấu kết và tính toán tinh vi, đặt ra yêu cầu cấp thiết: pháp luật không chỉ đầy đủ mà phải đi được đến tận cùng của thực tiễn.
Nhận diện, khoảng trống và thách thức thực tiễn
Thực tiễn cho thấy, các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường tập trung ở những lĩnh vực có nguy cơ cao như sản xuất công nghiệp, xử lý chất thải, xây dựng và giao thông.
Thủ đoạn ngày càng tinh vi và có tính che giấu cao: từ xả thải “ngụy trang” (vận hành sai quy trình, lén lắp đường ống ngầm, lợi dụng mưa lớn để xả thải chưa xử lý), đến hợp thức hóa chất thải nguy hại dưới vỏ bọc pháp lý, hay can thiệp hệ thống quan trắc tự động bằng cách chỉnh sửa dữ liệu từ xa, cài đặt thông số “đẹp”, thậm chí bơm nước sạch để đánh lừa cảm biến.
Đặc biệt, qua các chuyên án lớn, lực lượng chức năng đã khởi tố hàng chục bị can với nhiều tội danh, làm rõ sự móc ngoặc giữa doanh nghiệp và một số cán bộ quản lý nhà nước ngay từ khâu đầu tư, vận hành hệ thống môi trường.
Thời gian gần đây, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (C05 – Bộ Công an) phối hợp cơ quan điều tra các cấp đã khởi tố 82 bị can thuộc nhiều cơ quan, tổ chức về 08 tội danh; đặc biệt đã làm rõ sự thông đồng, móc ngoặc, tiếp tay của cơ quan quản lý ngay từ giai đoạn đầu tư thiết bị đến vận hành.
Đáng chú ý trong đó có nhiều bị can là cán bộ, lãnh đạo trong đơn vị quản lý đã thông đồng, móc ngoặc với các công ty để thực hiện các hành vi phạm tội, như: Hoàng Văn Thức - Cựu Cục trưởng Cục môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Trần Thị Minh Hương - Giám đốc Trung tâm quan trắc môi trường miền Bắc).
Thực tế này cho thấy một xu hướng đáng lo ngại: tội phạm môi trường không còn là vi phạm đơn lẻ, mà đã trở thành “tội phạm chuỗi”, liên kết xuyên suốt từ sản xuất, vận chuyển đến xử lý và hợp thức hóa hồ sơ.
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập được một hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ trong xử lý tội phạm môi trường, với nền tảng là Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2024, 2025), Luật Bảo vệ môi trường 2020 và hệ thống văn bản hướng dẫn như Nghị định 45/2022/NĐ-CP, tạo thành một “khung pháp lý” khá đầy đủ cho công tác đấu tranh, xử lý vi phạm.
Hệ thống này đã tạo ra một “tấm lưới” pháp lý tương đối chặt chẽ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy tội phạm đang đi nhanh hơn khả năng thực thi.
Các thủ đoạn như can thiệp hệ thống quan trắc, hợp thức hóa chứng từ, hay lợi dụng kẽ hở trong phân cấp quản lý, cho thấy khoảng cách giữa quy định trên giấy và thực tế vận hành vẫn còn đáng kể.
Trước yêu cầu đó, việc hoàn thiện pháp luật không chỉ dừng ở sửa đổi kỹ thuật mà phải gắn với tư duy lập pháp theo kịp thực tiễn.
Gắn với Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2024, 2025), Thiếu tướng Thân Văn Hải – Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (C05 – Bộ Công an) nhấn mạnh: Việc sửa đổi Bộ luật Hình sự không chỉ nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý mà còn thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng trong phòng, chống tội phạm trong giai đoạn phát triển mới. Trên nền tảng đẩy mạnh khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, pháp luật phải vừa bảo đảm tính nhân đạo, khoan hồng, vừa đủ sức răn đe, nghiêm khắc; qua đó bảo vệ quyền con người, lợi ích của Nhà nước, giữ vững trật tự, an toàn xã hội và bảo đảm mỗi người dân được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh.
Trong bối cảnh bước vào giai đoạn “vươn mình của dân tộc”, áp lực môi trường sẽ tiếp tục gia tăng cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, mở rộng sản xuất. Gia tăng chất thải, khai thác tài nguyên quy mô lớn, ô nhiễm tại lưu vực sông, làng nghề, đô thị… sẽ kéo theo nguy cơ phát sinh các loại tội phạm mới, kể cả trên không gian mạng thông qua việc can thiệp dữ liệu môi trường.
Nếu không kiểm soát tốt, đây không chỉ là vấn đề môi trường mà còn là thách thức đối với an ninh quốc gia và phát triển bền vững.
Từ hoàn thiện pháp luật đến nâng cao hiệu lực thực thi
Trước yêu cầu mới, Chính phủ và các cơ quan chức năng đã kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện chính sách nhằm đưa pháp luật đi vào thực tiễn, tiêu biểu như Nghị định 184/2025/NĐ-CP, Nghị định 189/2025/NĐ-CP, việc sửa đổi Pháp lệnh Cảnh sát môi trường (2025) và Chỉ thị 20/CT-TTg (2025).
Những điều chỉnh này cho thấy một xu hướng rõ nét: đưa quyền lực thực thi xuống gần cơ sở hơn, nơi trực tiếp phát sinh vi phạm, qua đó nâng cao khả năng phát hiện sớm, xử lý từ gốc, thay vì chỉ khắc phục hậu quả.
Không chỉ dừng ở phân cấp, việc nâng cao hiệu lực thực thi còn được đặt trong mối quan hệ phối hợp liên ngành chặt chẽ.
Song song với việc hoàn thiện thể chế, cơ chế phối hợp liên ngành cũng được tăng cường. Bộ Công an và Bộ Tài nguyên và Môi trường (trước đây) đã ban hành Quy chế phối hợp số 01/QCPH-BTNMT-BCA ngày 29/12/2022 về bảo đảm an ninh, trật tự trong quản lý tài nguyên, môi trường. Trên cơ sở đó, ngày 16/3/2026, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (C05) và Cục Môi trường tiếp tục ký kết kế hoạch phối hợp trong kiểm tra, phát hiện, xử lý tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Cơ chế phối hợp được triển khai theo hướng phát huy thế mạnh của từng lực lượng: cơ quan môi trường cung cấp chuyên môn kỹ thuật, dữ liệu; lực lượng Cảnh sát môi trường thực hiện điều tra, xác minh, xử lý, nhất là đối với các vụ việc có dấu hiệu tội phạm. Việc trao đổi thông tin, phối hợp kiểm tra liên ngành được thực hiện thường xuyên, góp phần xử lý kịp thời nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài, nâng cao tính răn đe và hiệu quả quản lý nhà nước.
Ông Tăng Thế Cường – Cục trưởng Cục môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: trong thời gian tới, hai bên tiếp tục đẩy mạnh chia sẻ dữ liệu, ứng dụng công nghệ trong giám sát, qua đó nâng cao năng lực phát hiện sớm, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm ngay từ cơ sở.
Trên thực tế, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã chuyển mạnh phương thức đấu tranh từ xử lý vụ việc sang kiểm soát toàn bộ chuỗi vi phạm.
Thiếu tướng Thân Văn Hải - Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (C05 – Bộ Công an) khẳng định: Thực tiễn đấu tranh cho thấy tội phạm môi trường hiện nay không còn là những hành vi riêng lẻ mà đã hình thành các chuỗi vi phạm có tổ chức, có sự cấu kết chặt chẽ giữa nhiều chủ thể. Vì vậy, nếu pháp luật không được hoàn thiện kịp thời, không gắn chặt với thực tiễn và không được thực thi nghiêm từ cơ sở thì sẽ rất khó phát hiện, xử lý triệt để.
Từ đó, lực lượng chức năng không chỉ triệt phá nhiều chuyên án lớn, bóc gỡ các đường dây có tổ chức, mà còn từng bước “giải mã” phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm, qua đó cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách, pháp luật.
Quá trình này hình thành một vòng liên kết chặt chẽ: từ thực tiễn phát hiện bất cập, đến điều chỉnh chính sách, rồi quay trở lại phục vụ hiệu quả cho thực tiễn.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ dừng ở việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực tổ chức thực thi, bảo đảm các quy định được triển khai đồng bộ, hiệu quả trong đời sống.
Gắn với yêu cầu hiện đại hóa công tác đấu tranh, Thiếu tướng Thân Văn Hải – Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (C05 – Bộ Công an) cho biết: Chúng tôi xác định phải chủ động ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, để nâng cao hiệu quả công tác; từng bước chuyển đổi phương thức từ truyền thống sang hiện đại theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW. Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác quốc tế thực chất, qua đó nâng cao năng lực phát hiện, xử lý tội phạm môi trường trong bối cảnh mới.
Theo đó, cần tập trung vào: hoàn thiện pháp luật theo hướng “bịt lỗ hổng” công nghệ; kiểm soát quyền lực trong quản lý; ứng dụng công nghệ trong giám sát; tăng cường phối hợp liên ngành và quốc tế; phát huy vai trò cấp cơ sở.
Một hệ thống pháp luật dù hoàn chỉnh đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu không được thực thi nghiêm minh.
Trong cuộc chiến với tội phạm môi trường, nơi lợi ích kinh tế có thể làm lu mờ trách nhiệm xã hội, yêu cầu đặt ra không chỉ là có luật, mà là: luật phải đủ mạnh để răn đe, đủ rõ để không bị lợi dụng và đủ gần thực tiễn để không bị vô hiệu hóa.
Chỉ khi đó, “tấm lưới pháp lý” mới thực sự trở thành lá chắn bảo vệ môi trường, bảo vệ sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.











