50 năm Ngày thành phố Sài Gòn mang tên Thành phố Hồ Chí Minh (02/7/1976 - 02/7/2026): Bài 3: Vượt qua thách thức, đưa TPHCM tiến vào kỷ nguyên mới
TPHCM mang tên Bác Hồ, một danh xưng vừa là niềm kiêu hãnh, vừa gắn với sứ mệnh tiên phong. Nhưng sau năm 1975 là giai đoạn kinh tế suy thoái chưa từng có, lạm phát năm 1986 lên đến 775%. TPHCM buộc phải thay đổi, với những chính sách đổi mới, 'phá rào' để thoát khủng hoảng, mà sau này được ghi nhận là bước đột phá đầu tiên của quá trình Đổi mới. Đó là một quá trình tự cởi trói, đưa TPHCM trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước.
Mang tên Bác, TPHCM vừa kiêu hãnh vừa mang sứ mệnh vinh quang
02/7/1976 là ngày lịch sử - thành phố Sài Gòn được đổi tên là TPHCM. Việc được mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, là kết tinh của một tâm nguyện lớn, được hun đúc qua suốt 30 năm chiến đấu, hy sinh của đồng bào Sài Gòn - Gia Định, Nhân dân Nam Bộ và cả dân tộc.
Từ Cách mạng Tháng Tám 1945, đến Nam Bộ kháng chiến 23/9/1945, đến Đại thắng mùa Xuân 30/4/1975, đó là chặng đường 30 năm chiến đấu bền bỉ, gian khổ, hy sinh để giành lại độc lập, tự do, thực hiện trọn vẹn khát vọng của dân tộc đã khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập. Trong suốt hành trình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của lý tưởng, là điểm tựa của "tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ gìn nền tự do và độc lập" cho Tổ quốc.

Đồng chí Võ Văn Kiệt thăm Nhà máy Dệt Thành Công khi là Bí thư Thành ủy TPHCM
TPHCM vinh dự được mang tên Bác Hồ, một danh xưng vừa là niềm kiêu hãnh, vừa gắn với sứ mệnh tiên phong. Đó chính là sự tôn trọng giá trị lịch sử và tôn vinh một biểu tượng của dân tộc, cũng là sự trao gửi trách nhiệm của cả nước với TPHCM, một trách nhiệm to lớn, tầm cao và chiều sâu của nhiệm vụ mới, gắn với tên tuổi vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.
Được là người dân của một đất nước tự do, độc lập đã là điều đáng tự hào và được là công dân của một thành phố mang tên Bác - lãnh tụ kính yêu của dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, đó còn là niềm vinh dự đặc biệt. Sài Gòn - Gia Định được vinh dự mang tên Bác gắn với trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ và khát vọng đưa thành phố "đi trước, về đích trước" trong giai đoạn phát triển lịch sử của dân tộc.
Bước vào vào chặng đường mới với muôn vàn khó khăn, nhất là trong 10 năm đầu sau ngày thống nhất đất nước. Thời bình nhưng cả nước bước vào giai đoạn mới khốc liệt không kém khi đối diện với cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và ngay sau đó là chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 02/1979.
Kinh tế suy thoái chưa từng có
Sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, TPHCM có hàng nghìn cơ sở kinh doanh quy mô lớn, vẫn tiếp tục hoạt động sản xuất. Khi đó Sài Gòn có 1.736 xí nghiệp từ 50 đến trên 1.000 lao động. Chiến tranh không để lại nhiều dấu vết trên cơ thể thành phố Sài Gòn, lại có nền công thương nghiệp phát triển khá tốt, là nền tảng tốt để nền kinh tế được vận hành.
Tuy nhiên, việc sản xuất chỉ duy trì được khoảng hai năm khi còn nguyên liệu dự trữ. Đến năm 1978, nguyên vật liệu cạn kiệt do bị cấm vận, nhiều mặt hàng không thể nhập từ nước ngoài như trước, còn trong nước lại không thể tự sản xuất. Việc sản xuất bị đình đốn, không có lối thoát. Nhìn ra thế giới, thời hậu chiến tranh, các nước như Đức, Nhật hay Châu Âu đều phải nhờ nguồn lực từ bên ngoài để vực dậy nền kinh tế nhưng Việt Nam thì khác, hoàn cảnh khác, khó khăn hơn rất nhiều, do đó chỉ có con đường tự lực cánh sinh, trong hoàn cảnh thiếu thốn nguồn lực.
Khi chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam nổ ra, Việt Nam bị bao vây cấm vận không chỉ từ Mỹ mà còn của nhiều nước khác, tình thế rất ngặt nghèo, có lúc tưởng chừng như không thể vượt qua. Đặc biệt những rào cản của cơ chế quan liêu bao cấp không còn phù hợp với một thành phố vốn rất năng động trong sản xuất và thương mại. Đời sống Nhân dân khó khăn chồng chất. Lần đầu tiên trong lịch sử, người dân Sài Gòn phải ăn cơm độn, từ khoai sắn đến bo bo, có lúc độn đến 90%. Việc lo cái ăn cho hơn 3,5 triệu dân thành phố là một bài toán cực khó.
Chính sách cải tạo công thương nghiệp tư nhân không hợp lý khiến nền kinh tế miền Nam và TPHCM lao dốc. Mất mát lớn nhất là về con người. Nhiều doanh nhân và thương gia không muốn rời thành phố, nhưng cuối cùng vẫn phải ra đi. Lực lượng trí thức cũng rời bỏ đất nước, chất xám bị chảy máu. Ở nông thôn, mô hình hợp tác hóa khiến nông dân không thích nghi được, bỏ ruộng đồng.
Những cuộc cải cách kinh tế trong mô hình bao cấp đã gây thiệt hại lớn, đẩy giá cả tăng phi mã với đỉnh điểm lạm phát 775% vào năm 1986. TPHCM và cả nước đối diện với tình trạng suy thoái kinh tế chưa từng có. Trong khi đó, cấm vận của Mỹ rất khắc nghiệt. Hầu hết quốc gia đều muốn làm ăn với Mỹ, nên e ngại hợp tác với Việt Nam. Chỉ một số doanh nghiệp nhỏ từ Hồng Kông, Quảng Châu hoặc các nước xã hội chủ nghĩa cũ vẫn tiếp tục giao thương nhưng tiềm lực nhỏ và yếu.
Đầu thập niên 1980, khi hai đời Bí thư Thành ủy TPHCM là đồng chí Nguyễn Văn Linh và đồng chí Võ Văn Kiệt đều "bật đèn xanh" để TPHCM xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp. Liên tục trong 2 năm 1979 - 1980, Thành ủy ban hành hai Nghị quyết đề ra những hướng đột phá theo tinh thần chủ động sáng tạo từ cơ sở, khuyến khích sản xuất. Đảng bộ TPHCM nhìn nhận thẳng vấn đề: Nền kinh tế bị đảo lộn, lại quản lý theo một cơ chế có nhiều mặt không phù hợp, nên ngày càng mất cân đối nghiêm trọng.
Một số doanh nghiệp tư nhân hình thành, tìm mọi cách để sản xuất. Bắt đầu xuất hiện một số công ty làm ăn theo mô hình mới như Công ty Bột giặt Miền Nam, Dệt Phong Phú, Dệt Thành Công, Bia Sài Gòn... Công ty xuất nhập khẩu trực tiếp (Direximco) và xuất nhập khẩu Chợ Lớn (Cholimex) được hình thành để huy động vốn mua hàng xuất khẩu, lấy ngoại tệ nhập nguyên liệu, vật tư cho sản xuất.
Việc "chạy ăn" cho hơn 3,5 triệu dân thành phố là một bài toán cực khó trong hoàn cảnh đó. Lãnh đạo thành phố lập Tổ thu mua lương thực, lặn lội xuống Đồng bằng Sông Cửu Long, vượt hàng rào "ngăn sông cấm chợ" để thu mua lương thực theo giá thỏa thuận, tạo nên "hạt gạo cô Ba Thi" nổi tiếng thời đó.
Lãnh đạo thành phố đã ủng hộ cho những tìm tòi, sáng kiến "xé rào", kêu gọi tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, từng bước thoát ra khỏi cách suy nghĩ, làm ăn kiểu cũ. Nhờ vậy, kinh tế TPHCM bắt đầu có tăng trưởng trong tình thế bị "trói tay". Giai đoạn này, vẫn tập trung phát triển kinh tế quốc doanh, nhưng cũng mở lối, mở cơ hội cho những doanh nghiệp tư nhân bắt đầu có thể nhập nguyên liệu từ nước ngoài từ nhiều nguồn để sản xuất, mở ra quan điểm kinh tế nhiều thành phần, cho phép người dân bỏ vốn ra sản xuất lớn.
Những chính sách Đổi mới của TPHCM lúc đầu bị coi là "phá rào", sau này được ghi nhận là bước đột phá đầu tiên của quá trình Đổi mới, được đánh giá là năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, những đặc trưng tính cách Anh hùng đã trở thành thuộc tính, thương hiệu của TPHCM.
Năm 1982, Bí thư Thành ủy TPHCM Võ Văn Kiệt ra Hà Nội nhận nhiệm vụ Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước nhưng vẫn giữ kết nối với các chuyên gia, doanh nhân ở TPHCM, thúc đẩy quá trình đổi mới tư duy kinh tế ở cấp Trung ương.
Tháng 7/1983, Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Linh tổ chức cho các giám đốc xí nhiệp dám làm, năng động, trực tiếp báo cáo với Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh. Nhiều ý kiến về cơ chế quản lý kìm hãm sản xuất được thẳng thắn nêu ra. Trước nhũng ý kiến thẳng thắn được các doanh nghiệp nêu ra, đồng chí Trường Chinh nhận ra vấn đề không chỉ nằm ở quản lý nền kinh tế kém hiệu quả, mà cần xem xét lại toàn bộ quan điểm về quản lý kinh tế.
Khi trở thành Tổng Bí thư năm 1986, đồng chí Trường Chinh tiếp tục cùng đội ngũ lãnh đạo đất nước quyết định đường lối kinh tế đất nước, tập trung giải quyết lạm phát phi mã trên 700% và vực dậy nền kinh tế, đưa cả nước vào thời kỳ Đổi mới.
Vượt qua thách thức để trở thành đầu tàu cả nước
Năm 1987, Việt Nam có Luật Đầu tư nước ngoài. Năm 1990 có Luật Doanh nghiệp tư nhân. Năm 1991 Khu chế xuất Tân Thuận được hình thành. Dòng vốn FDI đầu tiên bắt đầu đổ vào TPHCM. Giai đoạn 1991 - 1995 vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, trung bình 68% mỗi năm. Từ 1992 đến 1996, TPHCM thành lập thêm hai khu chế xuất là Linh Trung 1 và Linh Trung 2.
Từ những năm 1990, lãnh đạo TPHCM chủ động tìm hướng đi mới bằng cách kêu gọi các tập đoàn lớn đầu tư. Mô hình khu công nghệ cao thành hình. Năm 2002, thành lập Khu công nghệ cao TPHCM (SHTP). Khi đó, Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Minh Triết trực tiếp sang Nhật Bản mời Tập đoàn Nidec về đầu tư.
TPHCM lúc này bắt đầu trở thành một "đầu tàu kinh tế" của Việt Nam. Tỷ trọng GRDP của TPHCM từ đầu thập niên 1990 tăng dần lên mức trên 20% vào 2010, thu hút FDI cả giai đoạn 1996 - 2010 chiếm hơn 10% cả nước, kim ngạch xuất khẩu hàng năm chiếm xấp xỉ một nửa cả nước những năm đầu 2000.
Ngày 03/02/1994, Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam; năm 1995 hai nước chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao. TPHCM và cả nước bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Làn sóng doanh nghiệp và tập đoàn đa quốc gia của Mỹ cùng thế giới đổ bộ vào Việt Nam. Các khu chế xuất, khu công nghiệp trên cả nước nhanh chóng được hình thành, tạo đà cho xuất khẩu tăng vọt. Cơ cấu kinh tế TPHCM nhanh chóng chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Khu vực dịch vụ (tài chính, ngân hàng, thương mại) chiếm ưu thế và dần làm chủ cơ cấu.
Tốc độ tăng trưởng GRDP của TPHCM liên tục lập đỉnh từ 10 đến 12%/năm (2005). Tổng sản phẩm GDP lúc bấy giờ của TPHCM chiếm khoảng hơn 20% tổng GDP của cả nước. Thu nhập đầu người ở TPHCM năm 2000 chỉ ở mức khoảng 1.350 USD, đến năm 2005 đã vọt lên 1.980 USD, cao gấp khoảng 2,7 lần mức bình quân chung của cả nước.
TPHCM bước vào giai đoạn phát triển mới với những tiềm năng dự báo sẽ phát triển mạnh mẽ, trở thành đầu tàu kinh tế, dẫn dắt nền kinh tế quốc gia trong các giai đoạn tiếp theo.











