81 năm Quốc khánh: Bồi đắp thế, lực cho nền độc lập

Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 tiếp tục được hun đúc thành ý chí, niềm tin và động lực để toàn dân tộc vững bước thực hiện sứ mệnh lịch sử trong kỷ nguyên mới.

"Lời thề Độc lập" mùa Thu năm 1945

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ thời khắc đó, một dân tộc từng chịu ách đô hộ đã giành lại quyền làm chủ đất nước, quyền tự quyết định chế độ chính trị và lựa chọn con đường phát triển của mình.

Sau khi khẳng định "nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập", Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: "Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy".

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Theo PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc - nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, những câu kết của bản Tuyên ngôn Độc lập chính là "lời thề độc lập", thể hiện ý chí và quyết tâm bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền của nhân dân Việt Nam. Giá trị của lời thề nằm ở sự gắn kết chặt chẽ giữa quyền tự do, độc lập vừa được khẳng định trước quốc dân và thế giới với trách nhiệm bảo vệ thành quả cách mạng bằng tất cả tinh thần, lực lượng, tính mạng và của cải của toàn dân tộc. Đồng thời đặt nền móng cho tư tưởng xuyên suốt về bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Thực tiễn lịch sử sau đó nhanh chóng đặt "lời thề Độc lập" trước những thử thách khắc nghiệt. Chính quyền cách mạng non trẻ phải cùng lúc đối mặt với nạn đói, nạn dốt, ngân khố cạn kiệt, nền kinh tế đình đốn, các lực lượng ngoại bang hiện diện trên lãnh thổ và nguy cơ chiến tranh ngày càng cận kề. Nền độc lập vừa được tuyên bố chưa kịp có khoảng lặng để củng cố mà phải lập tức bước vào thử thách sinh tử.

Suốt nhiều thập niên sau đó, Việt Nam trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ, bảo vệ chính quyền cách mạng, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc rồi tiếp tục bảo vệ biên giới, biển đảo và tiến hành công cuộc Đổi mới. Mỗi chặng đường đều đặt ra những yêu cầu khác nhau nhưng dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng và ánh sáng Chủ tịch Hồ Chí Minh soi đường, Nhân dân ta đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, giữ vững độc lập, chủ quyền.

81 năm trôi qua, Tuyên ngôn Độc lập vẫn vang vọng như lời thề sắt son về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của dân tộc Việt Nam. 6 chữ "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" mang giá trị bền vững, vừa là tiêu ngữ dưới Quốc hiệu vừa là lời thề chính trị và thước đo cao nhất đối với mọi đường lối, chính sách.

Từ độc lập dân tộc đến "tự chủ chiến lược"

Độc lập trước hết vẫn là chủ quyền quốc gia, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, song trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng, yêu cầu giữ vững độc lập đã gắn chặt hơn với năng lực tự chủ của nền kinh tế. Một đất nước muốn giữ quyền chủ động trong lựa chọn con đường phát triển phải có đủ thực lực để duy trì sản xuất, bảo đảm các nguồn lực thiết yếu và ứng phó với những biến động từ bên ngoài.

Thực tế cho thấy, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu giữa các nền kinh tế khiến một biến động xảy ra ở bên ngoài lãnh thổ có thể nhanh chóng tác động vào bên trong. Đứt gãy chuỗi cung ứng có thể làm thiếu nguyên liệu và linh kiện cho sản xuất; biến động địa chính trị đẩy giá năng lượng và chi phí logistics tăng cao; những thay đổi trong chính sách công nghệ của các nước lớn tác động trực tiếp đến đầu tư, xuất khẩu và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Trên không gian số, tấn công mạng gây gián đoạn hoạt động của các hệ thống thiết yếu, xâm phạm dữ liệu và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, xã hội.

Bởi vậy, nội hàm của độc lập sau 81 năm đã gắn ngày càng chặt với tự chủ, tự cường và khả năng giữ thế chủ động trước những biến động bên ngoài.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định: "Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc"; "bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh chế độ, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh dữ liệu, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực..."

Tư duy bảo vệ Tổ quốc được đặt trong quan hệ chặt chẽ với năng lực phát triển và tự chủ của đất nước. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu "tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa". Sức mạnh bảo vệ độc lập, chủ quyền được tạo nên bằng tổng hợp tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, năng lực quản trị quốc gia và sức chống chịu của nền kinh tế...

Mục tiêu giai đoạn 2026-2030 tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, đưa GDP bình quân đầu người lên khoảng 8.500 USD vào năm 2030, nâng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo lên khoảng 28% GDP và kinh tế số lên khoảng 30% GDP... Đây là những mục tiêu phát triển nhưng đồng thời tạo nền tảng vật chất cho sức mạnh quốc gia.

Việt Nam vươn lên đạt những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Việt Nam vươn lên đạt những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Song quy mô lớn hơn chưa đồng nghĩa với khả năng tự chủ cao hơn, một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và thu hút mạnh dòng vốn quốc tế nhưng vẫn dễ chịu tác động nếu các khâu có giá trị cao, công nghệ chủ chốt hoặc nguồn cung thiết yếu phụ thuộc quá lớn vào bên ngoài.

Đó cũng là vấn đề Nghị quyết số 19 NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra khi chỉ rõ: "... quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm; tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng, dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp; năng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế".

Trên cơ sở đó, Nghị quyết yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, "trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia tạo ra năng lực phát triển mới; chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập"...

Hai yêu cầu "tự cường" và "hội nhập" được đặt cạnh nhau cho thấy tự chủ kinh tế không đồng nghĩa với khép cửa hay thu hẹp quan hệ với thế giới. Việt Nam vẫn cần tận dụng dòng vốn, công nghệ, thị trường và mạng lưới sản xuất quốc tế để tăng tốc phát triển. Vấn đề cùng với hội nhập, năng lực bên trong của nền kinh tế phải lớn lên tương ứng.

Do đó, hiệu quả phát triển cần được nhìn cả ở phần giá trị và năng lực Việt Nam tích lũy được. Một dự án đầu tư lớn có thể tạo thêm sản lượng, kim ngạch và việc làm, song giá trị lâu dài còn phụ thuộc vào mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước, khả năng tiến lên những khâu có giá trị cao và trình độ công nghệ được nâng lên sau quá trình hợp tác. 

Bởi vậy, Nghị quyết 19-NQ/TW đặt yêu cầu xây dựng sức mạnh nội sinh trong quan hệ mở với thế giới, nhấn mạnh phải "huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực phát triển, trong đó, nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, đột phá; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro; không ngừng bồi đắp năng lực quốc gia, bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững và trường tồn".

Giữ mạch năng lượng, dựng "lá chắn" trên không gian số

Yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ thể hiện rất rõ trong lĩnh vực năng lượng. Điện, xăng dầu, than, khí... đều là những đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp đến vận hành của nền kinh tế. Thiếu điện hoặc gián đoạn nguồn cung nhiên liệu có thể lập tức tác động tới dây chuyền sản xuất, logistics, trung tâm dữ liệu và nhiều hạ tầng thiết yếu. Với mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong những năm tới, an ninh năng lượng trở thành điều kiện trực tiếp của tăng trưởng và cũng là một bộ phận của an ninh quốc gia.

Nghị quyết số 70 NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định năng lượng phải "đi trước một bước", đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân; "bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước, là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới, thực hiện hai mục tiêu 100 năm của đất nước".

Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số.

Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, nhu cầu tiêu thụ điện giai đoạn 2026-2030 dự kiến tăng 10,5-12,9% mỗi năm. Hệ số đàn hồi giữa tăng trưởng điện và tăng trưởng GDP dù đã giảm nhờ các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả vẫn ở mức 1,1-1,2 lần. Với mục tiêu GDP tăng bình quân từ 10%/năm trở lên, áp lực đặt lên nguồn điện, lưới truyền tải và khả năng dự phòng của hệ thống sẽ tiếp tục gia tăng.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Bộ Công Thương đã tập trung lãnh đạo toàn ngành hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn và nâng cao năng lực điều hành trong lĩnh vực năng lượng. Nhiều cơ chế, chính sách quan trọng được tham mưu ban hành nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 70-NQ/TW, tạo hành lang cho phát triển các nguồn năng lượng, củng cố hạ tầng và nâng cao khả năng cân đối cung cầu.

Cùng với nhiệm vụ bảo đảm điện cho sản xuất và đời sống, công tác điều hành thị trường xăng dầu, nguồn cung than, dầu khí cùng các dạng năng lượng mới tiếp tục được đặt trong yêu cầu chủ động hơn trước biến động quốc tế. Qua đó, khả năng ứng phó và sức chống chịu của hệ thống năng lượng từng bước được củng cố, tạo thêm nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

Bên cạnh năng lượng, dữ liệu và không gian mạng ngày càng gắn trực tiếp với an ninh quốc gia. Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số phát triển càng nhanh thì hoạt động của nền kinh tế, bộ máy quản lý nhà nước và đời sống xã hội càng phụ thuộc sâu vào các hệ thống số. Một cuộc tấn công mạng quy mô lớn có thể nhanh chóng gây tổn thất kinh tế, làm gián đoạn dịch vụ thiết yếu hoặc ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người dân.

Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định rõ: "Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia". 

Thực tế đã cho thấy mức độ hiện hữu của những nguy cơ này, năm 2025, các hệ thống thông tin tại Việt Nam phải đối mặt khoảng 552.000 cuộc tấn công mạng. Tuy số vụ giảm nhưng mức độ tác động vẫn đáng lo ngại khi 52,3% cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp được khảo sát cho biết đã chịu tổn hại, cao hơn mức 46,15% của năm trước.

Không gian làm việc tại Trung tâm giám sát An ninh mạng, đội ngũ túc trực 24/7 để bảo vệ an toàn cho hàng loạt dự án trọng điểm. 

Không gian làm việc tại Trung tâm giám sát An ninh mạng, đội ngũ túc trực 24/7 để bảo vệ an toàn cho hàng loạt dự án trọng điểm. 

Việt Nam đang đồng thời xây dựng năng lực phòng thủ và nâng mức độ tự chủ về công nghệ. Quyết định 515/QĐ-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia" đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam thuộc nhóm 15 quốc gia dẫn đầu thế giới theo Chỉ số an ninh mạng toàn cầu và có ít nhất 10.000 chuyên gia an ninh mạng chuyên sâu.

Cùng đó, 70% các ban, bộ, ngành, địa phương và hệ thống thông tin quan trọng quốc gia sử dụng sản phẩm công nghệ chiến lược "Make in Vietnam". Đây là bước đi nhằm giảm phụ thuộc vào giải pháp bên ngoài đối với những hạ tầng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vận hành quốc gia.

Yêu cầu làm chủ công nghệ cũng được cụ thể hóa hơn trong Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành "Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược". Công nghệ an ninh mạng và lượng tử được xác định là một trong 10 nhóm công nghệ chiến lược quốc gia.

Các giải pháp bảo mật và an ninh mạng cho hạ tầng quan trọng và cơ sở dữ liệu quốc gia nằm trong nhóm các sản phẩm công nghệ chiến lược đã có thị trường, có thể tạo ra tác động lớn và trực tiếp đến phát triển kinh tế. Chính phủ đồng thời giao phát triển nền tảng bảo mật và an ninh mạng cho hạ tầng số quốc gia giai đoạn 2026-2030, hướng tới làm chủ các công nghệ phát hiện tấn công theo thời gian thực, trung tâm điều hành an ninh mạng tích hợp trí tuệ nhân tạo và mã hóa kháng lượng tử...

Phía sau những mục tiêu đó là yêu cầu hình thành năng lực phòng thủ tương xứng với tốc độ chuyển đổi số của đất nước. Dữ liệu ngày càng trở thành tài sản quan trọng, hạ tầng số gắn chặt với hoạt động của nền kinh tế, do đó năng lực phòng vệ phải được xây dựng ngay trong quá trình số hóa, đủ sức phát hiện sớm nguy cơ, ngăn chặn từ đầu và hạn chế tối đa thiệt hại nếu sự cố xảy ra.

Bài học xuyên suốt của lịch sử Việt Nam là phải chuẩn bị thế và lực từ trước, không để đất nước rơi vào tình thế bị động, bất ngờ. Bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa" trước hết là nhận diện đúng nguy cơ, dự báo sát tình hình và chủ động xử lý những vấn đề có thể ảnh hưởng tới an ninh, lợi ích quốc gia ngay từ khi chưa trở thành thách thức trực tiếp.

Hơn tám thập niên đã trôi qua, mỗi thế hệ đứng trước một hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng trách nhiệm căn bản vẫn nguyên vẹn. Đó là giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và làm cho đất nước ngày càng giàu mạnh hơn. Cha ông đã phải trả bằng máu xương để giành và giữ nền độc lập, trách nhiệm của thế hệ hôm nay là dùng trí tuệ, bản lĩnh, năng lực sáng tạo và khát vọng phát triển để bồi đắp sức mạnh quốc gia, tạo đủ tiềm lực bảo vệ những thành quả đã được đánh đổi bằng biết bao hy sinh.

Trong những ngày cả nước hân hoan, tự hào kỷ niệm 81 năm Quốc khánh, đọc lại Tuyên ngôn Độc lập cũng là trở về với thời khắc thiêng liêng của dân tộc. Giữ vững nền độc lập hôm nay đòi hỏi đất nước phải ngày càng giàu mạnh, tự chủ, tự cường và đủ sức đứng vững trước mọi biến động. Đó cũng là cách thế hệ hôm nay tiếp nối "lời thề Độc lập" mùa Thu năm 1945 bằng trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng phát triển và thế, lực của một Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới.

Nguyên Thảo

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/81-nam-quoc-khanh-boi-dap-the-luc-cho-nen-doc-lap-471336.html