Bánh chưng để nhớ hay quên

Nếu nói về lịch sử lâu đời thì có lẽ bánh chưng là thứ quà có mặt sớm nhất trong mâm cỗ người Việt. Truyền thuyết kể rằng từ đời Hùng Vương thứ VI, nhà vua muốn tìm người kế vị, ngài bèn lệnh cho các hoàng tử phải dâng lên một món quà ý nghĩa nhất trong dịp Tết Nguyên đán. Lang Liêu là chàng hoàng tử nghèo nhất vẫn còn phải cày sâu cuốc bẫm cùng với dân làng. Trong nhà chẳng có gì ngoài mấy bộ cày cuốc và vài bồ thóc. Hoàng tử ngày ấy vẫn còn phải lao động chân tay như dân thường. Và có thể còn chưa được đi học.

Gói bánh chưng ngày Tết

Gói bánh chưng ngày Tết

May mắn thay, rời tay cày ra, tối đến chàng có một giấc ngủ êm đềm mộng mị. Chàng mơ thấy có một ông tiên đến dạy cho chàng cách làm hai loại bánh. Đó là bánh chưng và bánh giầy. Lại còn dặn kỹ khi dâng lên Hùng Vương VI cứ nói rằng bánh chưng là tượng đất, bánh giầy là tượng trời. Thời ấy khoa học thiên văn mới chỉ dừng ở khái niệm trời tròn đất vuông mà thôi.

Hùng Vương VI nhận bánh và ngẫm nghĩ rất lâu. Ông nghĩ về những sản vật do thần dân của mình làm ra chẳng có gì quý giá hơn lúa gạo, đậu lạc và lợn gà. Bánh chưng có đủ những sản vật ấy trong hình hài tượng trưng cho đất. Bánh giầy hình tròn trắng tinh tượng trưng cho trời. Ông cũng nhìn thấy cả công sức lao động của hoàng tử Lang Liêu và nghĩ rằng chàng xứng đáng được truyền ngôi báu.

Với chúng ta ngày nay, bánh chưng bánh giầy không còn nằm trong tưởng tượng về một nền thiên văn trời tròn đất vuông nữa. Tuy nhiên, nó lại là một bằng chứng xác đáng cho một nền văn minh của nhân loại. Nền văn minh lúa nước có lịch sử đến hơn bốn nghìn năm.

Tất nhiên nền văn minh lúa nước còn có rất nhiều bằng chứng vật thể của mấy nghìn năm lịch sử. Đó là đồ gốm thời Chu Đậu, đồ đồng thời Đông Sơn. Công dụng và những hình trang trí trên đồ vật có rất nhiều hình ảnh của cây lúa nước. Và công dụng của chúng đều gắn liền với việc thổi nấu cơm canh. Không khó để suy ra hạt lúa lúc ấy đã được cấy trồng và chế biến thuần thục.

Một trong những đỉnh cao chế biến lúa gạo là các loại bánh trái. Đặc biệt là bánh chưng bánh giầy. Ngoài cách chế biến đòi hỏi khá nhiều công đoạn phức tạp, bánh chưng còn là một nếp sinh hoạt rất lâu đời của cư dân lúa nước. Người Việt thường tổ chức gói bánh chưng vào dịp tết Nguyên đán. Đó là dịp con cháu đi làm ăn xa xôi quay trở về đoàn tụ trong ngôi nhà của mình có đến ba bốn thế hệ cùng sinh sống. Và đó cũng là dịp đám con cháu trong nhà được các bậc phụ huynh truyền dạy cho những kỹ thuật cơ bản để gói bánh chưng mà chẳng cần đến một ông tiên nào bảo ban trong giấc ngủ.

Những đứa trẻ nhỏ nhất sẽ ngồi ôm chậu thau nước đầy rửa lá dong. Những đứa lớn hơn có thể nhặt sạn nhặt thóc trong thúng gạo nếp. Lớn nữa có thể được dạy chẻ lạt, đãi đỗ. Người lớn trong nhà trải chiếu sắp đặt những chậu gạo, thịt, rá đậu xanh, lá dong và lạt giang vào vị trí thuận tiện nhất. Người nông thôn gói vo chiếc bánh rất chính xác về cân lạng và kích thước. Người thành phố có thêm công cụ là chiếc khuôn gỗ. Nhiều nhà cũng chẳng cần khuôn mà sai trẻ ngồi gấp lá và cắt bỏ đầu đuôi cho một kích thước do người lớn cắt chiếc cọng lá dong làm cữ. Công đoạn gói thường do một cụ bà kiểm soát. Cụ không trực tiếp gói từng chiếc bánh mà chỉ làm công đoạn ràng những chiếc bánh lại thành từng cặp. Công đoạn ấy tưởng như rất nhàn hạ mà không phải thế. Những chiếc bánh do nhiều người gói có độ lỏng chặt khác nhau. Người cầm chịch sẽ là người sửa lại các góc vuông và ràng chắc tay trăm cặp như một.

Thường thì những gia đình lớn tập trung gói bánh vào khoảng từ 26 tết. Ít nhà để đến chiều 30 là bởi chiều hôm ấy còn có mâm cơm cúng giao thừa cũng đòi hỏi nhiều nhân lực có tay nghề và khỏe mạnh.

Luộc nồi bánh chưng là công đoạn mất thời gian nhất. Thường là khoảng 12 tiếng đồng hồ củi lửa liên tục. Người ta thay nhau thức suốt đêm bên bếp lửa để thêm nước, thêm củi. Chậu nước lạnh đặt đè trên nóc thùng luộc bánh bao giờ cũng phải châm đầy. Nước trong thùng cạn cũng là lúc nước trong chậu đủ nóng để thêm vào. Trẻ con nhiều đứa thức suốt đêm bên nồi bánh chưng chỉ để chờ lúc dỡ bánh. Chúng sẽ được thưởng thức ngay lúc còn nóng những chiếc bánh chưng nhỏ vét chậu gạo gói dành riêng cho chúng.

Dỡ nồi bánh chưng ra, người lớn vẫn còn chưa hết việc. Lại phải xếp ngay ngắn lên một tấm gỗ. Dùng một tấm gỗ nữa cùng kích thước đặt lên để ép. Bên trên tấm gỗ ấy sẽ là xô nước hoặc cối đá. Nhà ở mặt tiền ngoài phố có bộ cửa xếp là dụng cụ nhấc ra để ép bánh chưng rất thuận tiện. Nông thôn nhiều khi phải dùng tấm phản đơn. Bánh chưng buộc phải ép nóng mới dền. Hạt gạo tan vào nhau chặt quánh. Khi cắt bằng sợi lạt miếng bánh phải vuông thành sắc cạnh.

Bánh đặt lên bàn thờ chiều 30 tết được các bà gói thêm một lần lá dong mới xanh ngắt. Lại buộc thêm mấy sợi lạt giang nhuộm hồng rất trang trọng. Lúc này chiếc bánh đã bắt đầu trở thành một nghi thức trên bàn thờ.

Bánh lấy xuống bóc lá bày lên mâm cỗ tết. Người ta dùng sợi lạt giang xé mỏng đặt xuống lòng đĩa lớn theo hình hoa tám cánh. Bóc lá bánh một mặt rồi úp lên đĩa lạt. Lúc này mới bóc nốt mặt bên kia chiếc bánh. Dùng sợi lạt cắt bánh ra thành 8 phần bằng nhau. Hai phần như thế gọi là một góc bánh chưng. Cũng không mấy người ăn hết một góc bánh chưng.

Cho dù những năm đói khổ thì bánh chưng cũng ít khi được dùng để ăn no. Thực ra ăn no bánh chưng rất nóng ruột. Lại cần phải có những món phụ trợ thêm vào. Một trong những món phổ thông nhất là dưa hành muối chín tới. Nông thôn có nồi cá tát ao kho kỹ ba lửa cùng với thịt dọi và mía tiện khẩu là món ăn cùng bánh chưng rất tuyệt.

Thời hiện đại, bánh chưng chỉ còn được coi như bất kỳ thứ bánh nào trên đời. Rất ít nhà ở phố còn tự tay gói nồi bánh chưng cho gia đình mình. Những công việc phụ trợ cho nồi bánh chưng cũng không còn nữa. Không có cái bếp củi tàn để đặt nồi nước lá mùi thì cũng chẳng còn ai tắm tất niên bằng nồi lá thơm thảo ấy nữa. Và chiếc bánh chưng được ăn vào bất kỳ lúc nào trong năm. Dĩ nhiên những thủ tục rườm rà tụ họp gia đình cũng dần thưa vắng. Người trẻ tầm 40 trở xuống bây giờ rất ít đứa còn biết gói bánh chưng. Thậm chí vài đứa còn không ăn. Chiếc bánh chưng truyền thống giờ phải đương đầu cạnh tranh với muôn vàn thứ bánh sản xuất công nghiệp khác. Và phần thua luôn phải nhận về mình.

Thế nhưng, bánh chưng về một nghĩa nào đó lại mang tinh thần của một di sản văn hóa. Tinh thần ấy thể hiện rõ nét nhất ở việc đoàn viên gặp gỡ trong một đại gia đình. Thiếu vắng nó hình như nền tảng cấu trúc của một đại gia đình có gì đó tựa như lung lay, chệch choạc. Anh chị em trong nhà ở phố cũng đã bỏ qua mất một cơ hội hiếm hoi để gặp gỡ chuyện trò. Cho nên nhớ hay quên đã trở thành câu hỏi đặt ra cho cuộc sống hôm nay.

ĐỖ PHẤN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/van-hoa/banh-chung-de-nho-hay-quen-205118.html