Bí quyết giúp tên lửa Kh-55 Nga vươn xa thêm 1.000 km

Tầm bắn là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả của UAV và các loại tên lửa.

Các nhà thiết kế vũ khí luôn tìm cách kéo dài quãng đường mà tên lửa có thể bay tới mục tiêu, qua đó mở rộng phạm vi tác chiến.

Máy bay ném bom Tu-160 trang bị vũ khí tiêu chuẩn, phía trước là tên lửa Kh-101, phía sau là các tên lửa Kh-55SM. (Ảnh: Bộ Quốc phòng Nga)

Máy bay ném bom Tu-160 trang bị vũ khí tiêu chuẩn, phía trước là tên lửa Kh-101, phía sau là các tên lửa Kh-55SM. (Ảnh: Bộ Quốc phòng Nga)

Một ví dụ đáng chú ý gần đây là dòng máy bay không người lái (UAV) Geran sử dụng động cơ phản lực của Nga. Tháng 9, có thông tin cho biết một chiếc Geran đã bay được khoảng 900 km. Đến tháng 10, một thiết bị cùng loại được cho là đã thực hiện chuyến bay dài 1.500 km tới Lviv, Ukraine.

Việc gia tăng tầm hoạt động không chỉ là thành tựu của các loại UAV hiện đại. Lịch sử phát triển tên lửa cũng ghi nhận nhiều trường hợp tầm bắn được cải thiện đáng kể thông qua những nâng cấp về thiết kế, đặc biệt là khả năng mang thêm nhiên liệu.

Tên lửa hành trình Kh-55 là một ví dụ tiêu biểu. Được đưa vào biên chế vào cuối tháng 12/1983, loại tên lửa này ban đầu được phát triển để đối phó với AGM-86 ALCM của Mỹ, dòng tên lửa hành trình phóng từ trên không bắt đầu được trang bị cho máy bay ném bom B-52H Stratofortress từ 2 năm trước đó.

Theo các dữ liệu công khai, phiên bản Kh-55 ban đầu có trọng lượng 1.195 kg, dài 5,88 m và đường kính thân 0,514 m. Tầm bay tối đa của tên lửa đạt khoảng 2.500 km.

Bốn năm sau, Liên Xô đưa vào sử dụng phiên bản cải tiến Kh-55SM, có tầm bắn tăng lên 3.500 km, tức xa hơn 1.000 km so với phiên bản ban đầu.

Yếu tố quan trọng tạo nên sự khác biệt là các thùng nhiên liệu phụ được lắp bên ngoài thân tên lửa. Nhờ lượng nhiên liệu bổ sung, Kh-55SM có thể duy trì hành trình lâu hơn và tiếp cận những mục tiêu ở khoảng cách xa hơn.

Đổi lại, trọng lượng của tên lửa tăng từ 1.195 kg lên 1.455 kg, trong đó phần nhiên liệu bổ sung chiếm khoảng 260 kg. Chiều dài cũng tăng từ 5,88 m lên 6,04 m, còn đường kính tổng thể tăng từ 0,514 m lên 0,77 m.

Dù được cải tiến về khả năng bay xa, một số thông số quan trọng vẫn được giữ nguyên. Kh-55SM mang đầu đạn nhiệt hạch nặng 410 kg, có sức công phá được nêu ở mức 200–500 kiloton. Tốc độ bay tối đa đạt khoảng 830 km/h, trong khi độ cao phóng tối đa là 12.000 m.

Kh-55 và Kh-55SM được trang bị cho các máy bay ném bom chiến lược Tu-95 đã nâng cấp và Tu-160.

Trong các dòng tên lửa hành trình phóng từ trên không hiện đại của Nga, Kh-101 được đánh giá có tầm hoạt động lớn hơn đáng kể. Theo những thông tin được công bố, tên lửa này có thể bay tới mục tiêu ở khoảng cách lên tới 5.500 km.

Sự phát triển từ Kh-55 lên Kh-55SM cho thấy việc tăng dung tích nhiên liệu có thể giúp kéo dài tầm bay đáng kể. Tầm bắn thực tế của một tên lửa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, bao gồm cấu hình mang tải, đường bay và điều kiện tác chiến.

Xu hướng cải thiện tầm hoạt động cũng xuất hiện ở các dòng tên lửa chống hạm của Liên Xô và Nga. Một ví dụ là P-1000 Vulcan, phiên bản phát triển từ tên lửa P-500 Bazalt.

P-500 Bazalt được thiết kế với tầm bắn khoảng 550 km. Trong khi đó, P-1000 Vulcan đạt tầm bắn khoảng 1.000 km, gần gấp đôi phiên bản tiền nhiệm. Sự cải tiến này giúp mở rộng khoảng cách mà hệ thống có thể đe dọa các mục tiêu trên biển.

Các phiên bản tên lửa không đối đất thuộc dòng Kh-59 cũng cho thấy tầm bắn có thể được cải thiện qua nhiều thế hệ.

Phiên bản Kh-59 cơ bản có tầm bay khoảng 45 km. Với Kh-59M, con số này tăng lên 115–120 km. Đến các biến thể Kh-59MK và Kh-59MK2 mới hơn, tầm bay được nâng lên khoảng 285–290 km.

Xuân Minh

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/bi-quyet-giup-ten-lua-kh-55-nga-vuon-xa-them-1000-km-169261024090536754.htm