Bỏ một môn thi, áp lực vào lớp 10 có thực sự giảm?
Bộ GD&ĐT đề xuất thi vào lớp 10 chỉ gồm Toán và Ngữ văn, đặt ra câu hỏi lớn về bản chất áp lực tuyển sinh.
Áp lực tuyển sinh và câu hỏi về nguyên nhân gốc rễ
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến về dự thảo mới, trong đó đề xuất nếu thi tuyển vào lớp 10 THPT công lập, học sinh chỉ thi Toán và Ngữ văn. Dự thảo vẫn giữ ba phương thức gồm thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp, đồng thời giao địa phương căn cứ thực tế để quy định phương thức tuyển sinh ở từng khu vực, loại hình trường.
Theo quy định hiện hành, học sinh phải thi Toán, Ngữ văn và môn thứ ba. Như vậy, vấn đề không đơn giản là hai hay ba môn, mà câu hỏi căn bản hơn phải là tuyển sinh cần đo điều gì ở học sinh và phương thức nào đo điều đó công bằng, tin cậy nhất với chi phí xã hội hợp lý nhất.
Việc giảm một môn có thể làm nhẹ kỳ thi nhưng chưa chắc giảm áp lực tuyển sinh. Nếu số học sinh muốn vào một nhóm trường vẫn lớn hơn số chỗ học, cạnh tranh không mất đi mà chỉ chuyển từ ba môn sang tập trung vào hai môn.
Ngược lại, nhiều phụ huynh và giáo viên lo bỏ môn thứ ba sẽ khiến học sinh học lệch, nhất là Ngoại ngữ. Lo ngại này cần được xem xét nghiêm túc bởi môn gắn với kỳ thi cạnh tranh thường nhận được nhiều thời gian và nguồn lực hơn. Tuy nhiên, không nên mặc định có thi thì học tốt hay bỏ thi thì học kém, bởi cả hai đều cần được kiểm chứng.
Kỳ tuyển sinh vừa qua, khoảng 30 tỉnh, thành tổ chức thi đều chọn Tiếng Anh làm môn thứ ba. Vì vậy, hoàn toàn có thể đo lường việc thêm Tiếng Anh giúp phân loại và dự báo khả năng học THPT tốt hơn bao nhiêu. Nếu giá trị bổ sung đáng kể, đó là căn cứ cân nhắc giữ; nếu rất thấp nhưng làm tăng luyện thi, học thêm và chi phí xã hội, đó lại là căn cứ để xem xét bỏ. Một môn thi nên được giữ vì nó cung cấp thêm thông tin có giá trị cho quyết định tuyển sinh, không chỉ vì bản thân môn học đó quan trọng.

Thí sinh dự thi lớp 10 tại Hà Nội. Ảnh: TL
Mặt khác, số môn thi không phải nguyên nhân gốc của áp lực vào lớp 10. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học vừa qua cả nước có khoảng 1,5 triệu học sinh tốt nghiệp THCS với gần 1,2 triệu suất lớp 10, đạt tỷ lệ đỗ 79,3%. Tuy nhiên, số bình quân toàn quốc không phản ánh đầy đủ áp lực tại từng địa bàn. Đắk Lắk là một ví dụ khi sau đợt tuyển sinh chính năm 2026 vẫn còn 2.738 chỉ tiêu tại 80 trường THPT công lập phải tuyển bổ sung. Trong khi đó, ở một số đô thị và trường có sức hút lớn, cạnh tranh lại rất cao.
Điều đó cho thấy có chỗ học và có cơ hội học tập phù hợp không hoàn toàn là một. Chỗ học có thể còn nhưng xa nơi cư trú, không phù hợp nguyện vọng hoặc chưa đủ hấp dẫn về chất lượng. Ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, khoảng cách địa lý và điều kiện kinh tế xã hội còn làm bài toán phức tạp hơn. Bởi vậy, bỏ một môn có thể làm nhẹ kỳ thi, nhưng muốn giảm áp lực tuyển sinh phải tác động vào cấu trúc cơ hội học tập sau THCS.
Cần tiêu chí phân quyền và tư duy đo lường chính xác
Quy định hiện hành đã cho phép ba phương thức tuyển sinh và dự thảo mới tiếp tục tinh thần linh hoạt khi nêu rõ địa phương có thể quy định phương thức tuyển sinh ở từng trường. Đây là hướng phù hợp với thực tế rất khác nhau giữa các địa bàn, nhưng phân quyền cần đi cùng tiêu chí và trách nhiệm giải trình.
Việc giải thích lý do trường này cần thi còn trường kia xét tuyển, hay địa bàn này chỉ cần hai môn trong khi nơi khác cần thêm thành phần đánh giá, phải được thể hiện bằng dữ liệu về tỷ lệ cạnh tranh, khả năng đáp ứng chỗ học, độ phân hóa, mức trùng điểm, khả năng tiếp cận và đặc điểm người học.
Một chuẩn quốc gia không nhất thiết đồng nghĩa với một phương án duy nhất, nhưng sự linh hoạt cũng không nên đồng nghĩa với lựa chọn chủ yếu bằng kinh nghiệm.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy không có một công thức tuyển sinh duy nhất. Có hệ thống sử dụng kết quả học tập nhiều môn, có nơi chủ yếu dựa vào địa bàn và nguyện vọng, còn trường có tính chọn lọc cao mới tổ chức đánh giá riêng. Điều đáng tham khảo không phải nước khác thi mấy môn, mà là nguyên tắc phương thức tuyển sinh phải phù hợp với mục tiêu tuyển chọn và cấu trúc cơ hội giáo dục.
Quan trọng nhất, hãy xác định cần đo gì trước khi quyết định thi mấy môn. Trật tự xây dựng chính sách nên bắt đầu từ việc xác định mục tiêu tuyển sinh, xác định cần đo năng lực nào, lựa chọn công cụ đo, kiểm định bằng dữ liệu rồi mới quyết định thi mấy môn. Nếu mục tiêu là lựa chọn học sinh có khả năng học tốt chương trình THPT, cần kiểm định xem Toán và Ngữ văn dự báo kết quả học tập sau đó tốt đến đâu, và thêm Ngoại ngữ thì giá trị dự báo tăng bao nhiêu.
Nếu sử dụng học bạ cũng không thể đơn giản coi điểm 9 ở mọi trường là tương đương. Muốn tăng vai trò đánh giá quá trình, cần tăng khả năng kiểm chuẩn và đối sánh giữa các trường. Nói cách khác, đừng chọn số môn trước rồi mới tìm lý do bảo vệ phương án, mà hãy xác định điều cần đo trước rồi lựa chọn công cụ tốt nhất để đo.
Thử nghiệm trên dữ liệu và đổi mới quản trị chính sách
Dữ liệu tuyển sinh 2026 đã kết thúc chính là nguồn dữ liệu thực tế rất giá trị. Với dữ liệu đã được ẩn danh, hoàn toàn có thể mô phỏng xem nếu bỏ môn thứ ba thì tỷ lệ trùng điểm thay đổi thế nào, thứ hạng của bao nhiêu học sinh thay đổi, khả năng phân loại tăng hay giảm, nhóm học sinh nào được lợi hoặc bất lợi. Sau một đến ba năm còn có thể tiếp tục theo dõi xem nếu Ngoại ngữ không còn là môn tuyển sinh thì năng lực thực chất có giảm hay chủ yếu chỉ giảm luyện thi và học thêm.
Đó là những câu hỏi khoa học khảo thí và thống kê có thể kiểm định. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ xử lý dữ liệu, dự báo và mô phỏng, nhưng AI chỉ là công cụ. Nền tảng vẫn phải là dữ liệu chuẩn, phương pháp khoa học, đánh giá tác động và trách nhiệm giải trình. Trước một quyết định ảnh hưởng tới hàng triệu học sinh, tại sao không thử chính sách trên dữ liệu trước khi thử chính sách trên con người?
Cuối cùng, nếu chất lượng giữa các trường còn chênh lệch, nhu cầu vẫn tập trung vào một số trường, mạng lưới trường chưa theo kịp biến động dân số, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên chưa đủ hấp dẫn, thì chuyển từ ba môn xuống hai môn chủ yếu vẫn là thay đổi kỹ thuật tuyển sinh. Muốn giảm áp lực thực chất phải mở rộng cơ hội học tập, nâng chất lượng giữa các trường và tạo ra nhiều con đường có chất lượng sau THCS.
Bởi vậy, câu hỏi lớn không chỉ là thi hai hay ba môn, mà phải là chúng ta cần đo điều gì ở người học và hệ thống đánh giá nào đo điều đó công bằng, tin cậy nhất. Bỏ một môn thi là thay đổi kỹ thuật tuyển sinh, trong khi giảm áp lực vào lớp 10 là bài toán về cơ hội giáo dục. Hai việc này có liên quan nhưng không phải là một. Dù lựa chọn hai hay ba môn, một nền giáo dục tốt cũng không thể để tư duy có thi mới học, không thi thì bỏ trở thành động lực học tập. Điều cần đổi mới vì thế không chỉ là số môn thi, mà còn là cách làm chính sách từ lựa chọn dựa nhiều vào kinh nghiệm và phản hồi sang quản trị chính sách tuyển sinh dựa trên dữ liệu, bằng chứng và trách nhiệm giải trình.


