Câu chuyện ra đời đặc biệt ca khúc 'Cô giáo về bản'

Giai điệu tươi sáng, rộn ràng của ca khúc 'Cô giáo về bản' vẫn cất lên trong những mái trường, nhất là vào mỗi dịp 20/11, nhưng ít ai biết được sự ra đời rất đặc biệt của bài hát.

Cô Trương Thị Hiệp - nguyên mẫu bài hát “Cô giáo về bản”. Ảnh: GĐCC.

Cô Trương Thị Hiệp - nguyên mẫu bài hát “Cô giáo về bản”. Ảnh: GĐCC.

Năm 1971, gia đình tôi có thêm hàng xóm mới ở Sa Pa chuyển về. Đó là một gia đình có ba con nhỏ, cô chú đều làm ở bệnh viện tỉnh. Tôi chơi thân với đứa con gái lớn của cô chú vì cùng tuổi và cùng có hai đứa em trai như nhau. Đứa bạn thân xinh xắn có giọng hát cao vút. Nó dạy tôi hát bài “Cô giáo về bản” và khoe với tôi rằng đó là bài hát của bác ruột sáng tác cho mẹ mình. Tôi ngạc nhiên và ngưỡng mộ vô cùng nên đã tìm hiểu về câu chuyện này.

Từ sự thuyết phục…

Ngày đó, con đường từ huyện lị Sa Pa đến bản Nậm Cang - Tả Van khoảng chừng 30 cây số. Đường vắng vẻ, thỉnh thoảng mới gặp một tốp dân bản đi nương hoặc đi chợ về. Những chú ngựa lặc lè hai quẩy tấu bên hông kèm ông chủ nằm vắt ngang trên mình, đi sau là bà vợ hai tay thoăn thoắt se lanh cùng một hai đứa trẻ lẵng nhẵng bám váy mẹ

Người thanh niên ngoài 20 tuổi gầy khẳng khiu, áo len cộc tay, cổ tim mặc ngoài sơ mi trắng, vai vác cây đàn ghi ta đang rảo bước. Nhìn thoáng qua là biết dân miền xuôi lên đây. Dù rất cố gắng đi cùng để bắt chuyện cùng họ nhưng cuối cùng anh vẫn bị bỏ lại một quãng khá xa

Đường gồ ghề, khúc khuỷu, len lỏi qua những tảng đá chắn ngang, nhìn từ trên cao xuống giống như một sợi chỉ mảnh vắt ven sườn đồi. Hai bên đường, những vạt hoa thóc, lay ơn, thược dược... bạt ngàn khoe sắc. Nắng vàng nhạt chảy tràn lưng đồi. Tiết trời mới chớm thu, ở dưới xuôi đang nóng chảy mỡ nhưng trên này đã lạnh

Đang đi, bỗng cơn mưa bất chợt ào đến, không kịp tìm chỗ trú nên người ướt như chuột lột. Mưa chợt đến rồi chợt đi. Nắng vàng lại chan hòa. Những đám mây trắng như bông ở đâu ùa tới, quấn quýt bên người, bồng bềnh như tiên cảnh rồi lại tản ra.

Cảnh đẹp nhưng sao lòng chàng thanh niên trĩu nặng ưu tư! Đó là Trương Hùng Cường, chàng sinh viên năm cuối Khoa Kiến trúc Trường Đại học Bách khoa. Đợt này nghỉ để chuẩn bị đi thực tập, anh về quê ngoại ở Sa Pa và tới thăm cô em gái của mình đang là giáo viên cắm bản tại Nậm Cang. Người thiếu nữ xinh đẹp, con gái một chủ buôn có tiếng ở đất Hà thành có học thức, tương lai rất rộng mở đi theo tiếng gọi của Đảng đã xung phong lên vùng cao - quê ngoại của mình dạy học. Con tim cô buốt nhói bởi những lần về quê ngoại chứng kiến cảnh tối tăm mờ mịt của người dân bản làng vì mù chữ, mù kiến thức.

Đường xa rảo bước. Phải đi nhanh mới kịp bởi ở miền núi trời tối nhanh, Hết trèo đèo rồi lại lội suối, đôi chân rã rời, mồm miệng tranh nhau thở, cuối cùng bản Nậm Cang cũng hiện ra với vài nếp nhà ẩn hiện bên sườn đồi có bếp lửa bập bùng hắt ra.

Đây là bản của người Dao Đỏ, ở lưng chừng đồi. Bản của người Hmông ở cao chót vót trên đỉnh núi. Dừng chân hỏi thăm, anh được người đàn ông hồ hởi dẫn đến điểm trường. Vừa đi, người đàn ông vừa rổn rảng khen các cô giáo. Tới một nếp nhà tranh tre, trước sân có một cột cờ với lá cờ tung bay trong gió, người đàn ông gọi toáng lên “Cô Hiệp ơi! Có khách!”.

Gian chái nơi đầu hồi nếp nhà được làm bếp có hai cô gái trẻ ngó ra. Một cô lao ào ra ôm chầm lấy người thanh niên và reo lên: “Anh Cường! Anh về khi nào vậy?”. “Anh về hôm qua! Sao quyết định lên đây mà không bảo anh?”, Trương Hùng Cường đáp. Hiệp kéo tuột anh trai vào gian phòng đơn sơ rồi tíu tít hỏi han. Người đàn ông dẫn đường nói chuyện với cô gái dưới bếp một lúc rồi chào ra về.

Đêm miền núi thật buồn bã và hoang vu. Nếp nhà tranh có ba gian, hai gian làm lớp học, một gian làm phòng ở cho hai cô giáo, vẩy ra bên hông một chái nhỏ làm chỗ đun nấu. Những tờ họa báo được cài gắn trên liếp cũng không ngăn được gió lùa buốt giá. Bữa cơm nấu vội tiếp đón anh trai lỏng chỏng mấy miếng sắn cõng vài hạt cơm, một bát canh cải đắng và miếng cá khô nướng.

Điểm trường Nậm Cang có hai cô giáo đều người miền xuôi lên cắm bản. Hai cô đang phơi phới tuổi xuân mười tám, đôi mươi. Ba anh em ngồi bên bếp lửa hồng trò chuyện

Bản Nậm Cang nghèo lắm! Nơi đây chủ yếu người Dao Đỏ và người Hmông sinh sống. Cuộc sống thiên về săn bắn, hái lượm và làm nương rẫy. Nhớ những ngày mới lên đây, các cô ôm nhau khóc ròng vì cuộc sống nơi hoang vu thiếu thốn đủ bề. Sáng mở mắt ra nhìn mây trắng phủ kín đỉnh núi, trưa lại nhìn ngọn núi cao sừng sững trước mặt, chiều đến nhìn làn khói vấn vương trên đôi ba nóc nhà, tứ bề đều thấy núi và núi làm các cô nhớ nhà da diết.

Nơi đây xa nguồn nước, các cô học theo dân bản dùng ống bương, vượt mấy ngọn núi gùi nước về dùng. May mắn sau đó dân bản đã bắc máng dẫn nước về tới trường cho các cô. Thèm đủ thứ, nhưng thứ đáng sợ hơn cả là các cô thèm tiếng nói bởi nhà cách nhà hàng mấy quả đồi và ngôn ngữ gần như bất đồng vì những người biết tiếng phổ thông rất ít. Những ngày đầu, các cô đến từng nhà vận động gia đình cho con cái đến lớp. Đi ban ngày không gặp vì người lớn đi làm vắng cả, các cô đốt đuốc đi ban đêm. Đáp lại sự nhiệt tình của các cô giáo là những cái lắc đầu: “Ô! Học cái chữ làm gì? Nó có làm ra lúa gạo đâu!”.

Không nản, các cô cứ kiên trì vận động. Ngày ngày theo dân bản lên nương rẫy, các cô hướng dẫn cách trồng cấy cho năng suất cao. Đêm đến, các cô tới nhà kể những câu chuyện mới mẻ ở miền xuôi, dạy các em nhỏ học tiếng phổ thông qua những bài hát ngắn, hướng dẫn người dân cách chăm sóc sức khỏe, ăn ở vệ sinh... Dần dần, mưa dầm thấm lâu, tiếng cười nói đã rộn ràng trong ngôi trường gió lùa thông thốc tứ bề ven sườn đồi. Người dân bản tuy nghèo nhưng tình cảm mộc mạc, chân tình. Họ quý và tin yêu các cô lắm.

Nghe em gái và bạn kể chuyện, bao ý định khuyên nhủ em từ bỏ công việc dạy học để về Hà Nội làm việc của Hùng Cường đã lung lay. Tuy vậy, anh vẫn nói ra ý định của mình mong em gái nghĩ lại. Hiệp cười, đôi mắt long lanh: “Anh ạ! Chuyện đó nói sau. Ngày mai anh cứ đi khắp bản chơi rồi về em nói chuyện nhé! Giờ anh đi nghỉ đi!”. Tiếp thêm khúc củi to vào bếp, cô với tay lấy cái đài bán dẫn dò kênh “Đọc truyện đêm khuya” vặn nho nhỏ. Âm thanh của rừng đêm đưa Cường vào giấc ngủ.

Nhạc sĩ Trương Hùng Cường - tác giả bài hát “Cô giáo về bản” (trái). Ảnh: GĐCC.

Nhạc sĩ Trương Hùng Cường - tác giả bài hát “Cô giáo về bản” (trái). Ảnh: GĐCC.

…đến cảm xúc thăng hoa

Tiếng gà gáy, tiếng chiếp chiếp của gà con gọi mẹ, tiếng ríu rít chào cô của trẻ em đến lớp làm Cường tỉnh giấc. Hôm qua đi bộ quãng đường dài nên mệt mỏi. Anh vươn vai ngồi dậy, ra sân làm vài động tác khởi động. Dăm ba đứa trẻ tầm 6 - 10 tuổi, ăn mặc rách rưới phong phanh, chân đất, mũi dãi quẹt ngang mặt, tóc rối bù vàng cháy như nùi rơm tròn mắt nhìn anh.

Sương chưa tan, vạn vật vẫn mờ ảo trong giá rét làm Cường run cầm cập. Thấp thoáng một vài nếp nhà cách nhau đến cả quả đồi. Trên những con đường mòn mấy đứa trẻ dắt díu nhau đến lớp, tiếng chào cô giáo râm ran, ngọng nghịu. Có đứa còn địu em lẵng nhẵng trên lưng. Đứa nào đứa nấy đều đi chân đất và nhem nhuốc. Hai cô giáo kéo lũ trẻ vào bếp rửa mặt mũi và chải đầu tóc cho chúng. “Em yêu trường em – Với bao bạn thân – Và cô giáo hiền”. Tiếng hát rộn rã cất lên trong lớp học cheo leo bên sườn đồi làm núi rừng như bừng sáng.

Dành cả ngày hôm đó, Cường đi khắp bản để tìm hiểu. Cái chất văn nghệ sĩ ngấm trong dòng huyết quản của anh được dịp phát tác. Nghe những lời khen ngợi các cô giáo từ dân bản, cảm thấy sự tin yêu của mọi người khi họ tạt qua lớp học nhờ cô giáo hướng dẫn, giải thích một vài vấn đề vướng mắc và nhất là khi nhìn vào những đôi mắt long lanh của các em nhỏ được cô giáo khen ngợi vì đã viết được nét chữ đầu tiên – anh cảm thấy quyết định của em gái là đúng đắn.

Đêm đó, những giai điệu ngọt ngào của bài hát “Cô giáo về bản” đã hình thành. Những ca từ đẹp đẽ, những giai điệu mang âm hưởng của người dân vùng cao Tây Bắc đã hình thành nên bài ca nổi tiếng của ngành Giáo dục. “Bản làng đây có nhiều em bé. Vì đàn em cô giáo về cùng dân. Vượt đường xa qua đèo qua suối. Suối, suối ngàn hoa lá rừng đưa bước chân cô giáo lên làng”. Giai điệu và ca từ như rút hết tâm tư của tác giả đã đưa bài hát ấy nhận được giải đặc biệt của ngành Giáo dục năm 1972 - 1973.

***

Bác Cường thỉnh thoảng vẫn lên nhà em gái – cô Hiệp chơi. Dáng bác cao gầy lỏng khỏng. Tôi rụt rè đứng nhìn, bác hiền từ vẫy tôi lại và chia cho mấy cái kẹo. Trong suy nghĩ của tôi, một kiến trúc sư lại biết sáng tác nhạc phải là một người cao siêu, tài giỏi lắm giờ đây hiển hiện trước mắt tôi thật bình dị. Còn cô Hiệp, một cô giáo với trái tim nhân hậu vẫn xinh đẹp và ấm áp như những ngày còn cắm bản, “cô giáo hiền như con nai rừng”!

Nay tác giả và nguyên mẫu đã đi về miền mây trắng nhưng lời ca, tiếng hát còn vang vọng mãi. Một thời tuổi trẻ đã sống hết mình vì tương lai của đất nước. Một bầu nhiệt huyết đã đem lại những áng mây hồng làm lên bài ca tươi sáng. Nậm Cang - Tả Van đã trở thành điểm đến của những tour du lịch. Nơi đây luôn chào đón các đoàn du khách trong nước và quốc tế.

“Từ lúc cô giáo về núi rừng đây thêm sáng, bếp lửa đây thêm hồng”. Vâng! Ánh sáng văn hóa của Đảng đã đem lại cuộc sống ấm no cho bản làng cheo leo bên sườn núi năm nào.

Hoàng Thị Tuấn Hương

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/cau-chuyen-ra-doi-dac-biet-ca-khuc-co-giao-ve-ban-post771326.html