Câu hỏi không có trong kịch bản tại Quảng trường Ba Đình chiều 2/9/1945

Giữa Quảng trường Ba Đình chiều 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tới đồng bào một câu hỏi không có trong kịch bản, tạo nên khoảnh khắc đặc biệt trong ngày Độc lập.

Nghe lại Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945

Chỉ hơn một tuần trước ngày 2/9/1945, Hà Nội còn là một thành phố bảo hộ, “mật thám như rươi”, thoáng thấy màu cờ đỏ là cả bộ máy cai trị của kẻ thù lồng lên như thú dữ. Thế mà giờ đây, cờ đỏ phấp phới khắp phố phường.

Đó là hình ảnh Hà Nội trong hồi ức của ông Vũ Kỳ - người thư ký nhiều năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh - được TS Chu Đức Tính, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, nhắc lại trong cuộc trò chuyện với PV Báo Điện tử VTC News.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trong ngày 2/9/1945. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trong ngày 2/9/1945. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Tiếng “Có!” giữa ngày Độc lập

Trước sự đổi thay chỉ trong thời gian ngắn, ông Vũ Kỳ từng thốt lên: “Thật là kỳ diệu. Cách mạng là một sự kỳ diệu. Và chính Người, từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, đã cùng với toàn dân làm nên điều kỳ diệu đó”.

Chiều 2/9/1945, điều “kỳ diệu” ấy hiện hữu tại Quảng trường Ba Đình. Hàng chục vạn người tập trung chờ thời khắc nền độc lập của dân tộc được chính thức tuyên bố trước quốc dân và thế giới.

Đúng 14h, đoàn xe của Chính phủ từ Bắc Bộ phủ tới. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp cùng ngồi trên xe tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Quảng trường Ba Đình. Các thành viên Chính phủ lâm thời lần lượt bước lên lễ đài.

Lá cờ đỏ sao vàng từ từ được kéo lên trong tiếng Tiến quân ca. Trên lễ đài, các thành viên Chính phủ đứng nghiêm. Phía dưới, một rừng cánh tay giơ lên. Quảng trường chìm trong không khí trang nghiêm.

Sau khi ông Nguyễn Hữu Đang, đại diện Ban tổ chức Ngày Độc lập, giới thiệu chương trình buổi lễ và Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh bước tới trước máy truyền thanh.

Những lời đầu tiên của bản Tuyên ngôn Độc lập vang lên giữa Quảng trường Ba Đình: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Đến phần tố cáo tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật đối với Nhân dân Việt Nam, biển người phía dưới bỗng lặng đi. Sự im lặng khiến Chủ tịch Hồ Chí Minh thoáng lo đồng bào không nghe rõ.

Chỉ một câu hỏi rất đơn giản của Bác và một tiếng trả lời rất ngắn gọn của Nhân dân đã xóa nhòa khoảng cách giữa vị lãnh tụ với Nhân dân.

TS Chu Đức Tính

Người dừng lại, hỏi: “Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?”.

Tiếng “Có!” lập tức vang lên từ hàng chục vạn người.

Theo TS Chu Đức Tính, câu hỏi ấy hoàn toàn không có trong kịch bản hay bất kỳ sự chuẩn bị nào.

Bác cũng rất giật mình, sợ mình đọc giọng xứ Nghệ, đồng bào không nghe được, không hiểu ý Bác”, ông Tính kể.

Một câu hỏi rất ngắn, bật ra từ nỗi lo đồng bào không nghe rõ. Nhưng với TS Chu Đức Tính, câu hỏi ấy cùng tiếng đáp lời của hàng chục vạn người đã tạo nên một khoảnh khắc đặc biệt của ngày Độc lập.

Chỉ một câu hỏi rất đơn giản của Bác và một tiếng trả lời rất ngắn gọn, rõ ràng của Nhân dân đã xóa nhòa khoảng cách giữa vị lãnh tụ với Nhân dân, tạo nên một mối quan hệ vô cùng gần gũi, ấm áp, một sự tin tưởng lẫn nhau”, ông nói.

Theo ông Tính, chính sự chân thành từ cả hai phía đã tạo nên sự gắn bó, tin tưởng sâu sắc giữa lãnh tụ và Nhân dân, không chỉ trong ngày Độc lập mà cả những năm tháng về sau.

Một chi tiết khác được TS Chu Đức Tính nhắc tới là câu hỏi nổi tiếng ấy không xuất hiện trong bản ghi âm Tuyên ngôn Độc lập được biết đến rộng rãi sau này.

Năm 1960, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lại Tuyên ngôn Độc lập để ghi âm, Người không nhớ chính xác mình đã dừng ở đoạn nào để hỏi đồng bào. Vì vậy, câu hỏi bật ra tự nhiên giữa Quảng trường Ba Đình chiều 2/9/1945 không được tái hiện trong bản ghi âm.

Khoảnh khắc ở Quảng trường Ba Đình chỉ diễn ra trong chốc lát. Nhưng để những lời Tuyên ngôn vang lên chiều hôm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành những ngày cuối tháng 8/1945 để suy nghĩ, viết, tự tay đánh máy và sửa chữa từng câu chữ của văn kiện khai sinh một Nhà nước độc lập.

Căn phòng trên tầng hai ngôi nhà 48 Hàng Ngang (Hà Nội) là nơi Bác Hồ khởi thảo Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Căn phòng trên tầng hai ngôi nhà 48 Hàng Ngang (Hà Nội) là nơi Bác Hồ khởi thảo Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ căn phòng nhỏ viết nên bản Tuyên ngôn vĩ đại

Ngày 19/8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 25/8, chính quyền về tay Nhân dân ở Sài Gòn. Chỉ ít ngày sau, Lễ Độc lập được tổ chức tại Quảng trường Ba Đình.

Với TS Chu Đức Tính, khoảng thời gian rất ngắn ấy cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã sớm nghĩ tới việc tuyên cáo trước quốc dân và thế giới về sự ra đời của một Nhà nước độc lập.

Điều đó nói lên sự hiểu biết, tầm nhìn của Đảng ta cũng như của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tức là rất sớm nghĩ đến ngày tuyên cáo trước quốc dân, trước thế giới sự ra đời của chính thể mình”, ông Tính nói.

Để chuẩn bị cho thời khắc ấy, ngày 22/8, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định cử ông Trần Đăng Ninh lên Tân Trào đón Bác Hồ về Hà Nội.

Không đợi người lên đón, sáng 23/8, Bác rời lán Nà Lừa (Tân Trào, Tuyên Quang), bắt đầu hành trình về Thủ đô. Để bảo đảm bí mật và an toàn, hành trình được tổ chức thận trọng, có thời điểm Người dừng lại để nghe ngóng tình hình.

Ngày 25/8, khi tới Gia Lâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đi ô tô thẳng qua cầu mà đi đò ngang sang bến Sù Ngà gần Chèm và nghỉ tại một gia đình cách mạng.

Sáng hôm sau, ông Trần Đăng Ninh và ông Võ Nguyên Giáp đến báo cáo tình hình, đón Người vào nội thành. Xe đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh tới số 35 Hàng Cân - cửa sau thông với ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Đây là nhà của ông Trịnh Văn Bô và bà Hoàng Thị Minh Hồ, một gia đình tư sản dân tộc kinh doanh tơ lụa, đồng thời là cơ sở của Việt Minh tại Hà Nội.

Nằm giữa khu phố buôn bán sầm uất, người ra vào tấp nập, 48 Hàng Ngang thuận lợi cho việc giữ bí mật. Ngôi nhà có cửa sau thông ra phố Hàng Cân, thuận tiện rời đi nếu xảy ra bất trắc. Giữa phố phường tấp nập, ít ai biết trên tầng hai ngôi nhà ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang cùng Trung ương giải quyết những công việc cấp bách của chính quyền cách mạng.

Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 được lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 được lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Cũng chính trong một căn phòng nhỏ trên tầng hai, Người bắt đầu viết và tự tay đánh máy bản Tuyên ngôn Độc lập.

Ngày 27/8/1945, ông Vũ Kỳ được chọn làm thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong ba ngày 28, 29 và 30/8, ông trực tiếp chứng kiến quá trình Người viết bản Tuyên ngôn Độc lập.

Anh Kỳ được chọn vào làm thư ký của Bác ngày 27/8 và anh được chứng kiến ba ngày 28, 29, 30/8, Bác Hồ ngồi ở căn phòng con con trên tầng hai, tự tay sử dụng máy chữ Hermes Baby, đánh từng con chữ để soạn bản Tuyên ngôn Độc lập”, TS Chu Đức Tính kể.

Căn phòng nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc nhỏ, thiếu ánh sáng. Người mặc chiếc áo nâu bạc, ngồi trên chiếc ghế bành phủ vải trắng bên chiếc bàn tròn, khi viết, lúc lại tự tay đánh máy.

Những người giúp việc trong gia đình khi đó không biết “Ông Cụ” đang cặm cụi làm gì. Mỗi lần họ tới hỏi có cần giúp gì không, Người thường quay lại mỉm cười, nói không cần gì rồi trò chuyện đôi câu. Khi họ rời đi, Người lại tiếp tục công việc.

Ba ngày ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không thể dành toàn bộ thời gian bên bàn viết và máy chữ. Những cuộc họp vẫn diễn ra, khách trong nước và quốc tế vẫn tới, hàng loạt công việc của một chính quyền vừa được thiết lập cần giải quyết.

Nhưng theo lời ông Vũ Kỳ được TS Chu Đức Tính kể lại, Người dành phần lớn tâm trí cho bản Tuyên ngôn.

Anh Kỳ kể lại là Bác ngồi nghĩ rất kỹ rồi mới bắt đầu đánh máy. Trừ những lúc phải dừng lại để tiếp khách hay hội họp, cơ bản Bác dành ba ngày ấy để soạn Tuyên ngôn Độc lập. Bác tự tay đánh máy chứ không phải qua thư ký”, ông Tính nói.

Đến ngày 30/8, sau ba ngày tập trung viết và đánh máy, bản Tuyên ngôn cơ bản hoàn thành.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sau đó trao đổi nội dung với các thành viên lãnh đạo Trung ương, đọc để mọi người nghe và đề nghị góp ý, bổ sung.

Các đồng chí chỉ bổ sung một vài ý, một vài chữ gì đó thôi, sau đó cơ bản tán thành. Bác cũng đề nghị sao ra để gửi cho các vị Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời, Chính phủ sẽ ra mắt ngày 2/9, để các vị góp ý”, ông Tính kể.

Ngày 31/8, trước thềm Lễ Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa lần cuối bản Tuyên ngôn. Cùng ngày, Người làm việc với Ban tổ chức, yêu cầu chuẩn bị chu đáo để Ngày lễ Độc lập thành công.

Trong những câu chuyện ông Vũ Kỳ kể lại, TS Chu Đức Tính đặc biệt nhớ một tâm sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi hoàn thành bản Tuyên ngôn.

Bác có nói với đồng chí Vũ Kỳ rằng, 20 năm trước đây, Bác đã viết ‘Bản án chế độ thực dân Pháp’, nhưng khi đó Bác là người dân của một nước nô lệ. Đến hôm nay, Bác mới được cùng dân tộc thi hành bản án ấy bằng bản Tuyên ngôn Độc lập này”, ông Tính kể.

Hai thập kỷ trước ngày Độc lập, Nguyễn Ái Quốc viết Bản án chế độ thực dân Pháp, vạch trần bản chất và tội ác của chế độ thuộc địa khi dân tộc Việt Nam vẫn chưa giành được độc lập. Đến mùa Thu năm 1945, vị thế đã hoàn toàn khác: Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị thay mặt một dân tộc vừa giành lại chính quyền tuyên bố trước thế giới quyền tự do, độc lập của mình.

Theo TS Chu Đức Tính, sau khi bản Tuyên ngôn được lãnh đạo Trung ương thông qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh “vô cùng sảng khoái”. Người coi văn kiện ấy là nơi lắng đọng tình cảm đối với dân tộc, vận mệnh đất nước và niềm tin vào Nhân dân.

Với TS Chu Đức Tính, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là văn kiện khai sinh một Nhà nước. Giá trị trường tồn của bản Tuyên ngôn còn nằm ở quyết tâm bảo vệ nền tự do, độc lập vừa giành được - điều ông gọi là “lời thề độc lập”.

Tuyên ngôn Độc lập trở thành lời thề độc lập của dân tộc ta mà chúng ta hôm nay, mai sau, mãi mãi sẽ giữ vững lời thề độc lập đấy. Cái đó làm nên giá trị trường tồn của bản Tuyên ngôn Độc lập”, TS Chu Đức Tính nói.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hai mươi bốn năm sau, cũng vào ngày 2/9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa.

Theo TS Chu Đức Tính, việc hai dấu mốc cùng rơi vào ngày 2/9 có thể chỉ là một sự trùng hợp. Nhưng khi đặt Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 bên Di chúc được Người chuẩn bị trong những năm cuối đời, ông nhìn thấy một mạch tư tưởng xuyên suốt: niềm tin vào Nhân dân và trách nhiệm đối với đất nước.

Bác luôn tin ở Nhân dân, Bác luôn dành mọi sức lực, trí tuệ, công việc để chăm lo lợi ích của Nhân dân. Bác tin dân, yêu dân, kính dân và luôn luôn tin ở Nhân dân”, ông Tính nói.

Niềm tin ấy hiện diện từ ngày đầu lập nước cho đến những dòng Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về “việc riêng” trong Di chúc: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ Nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

TS Chu Đức Tính đặc biệt chú ý tới chữ “tiếc”. Theo ông, khi nghĩ tới lúc phải đi xa, điều Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếc vẫn là không còn được phục vụ đất nước, Nhân dân lâu hơn, nhiều hơn. Nhưng cùng với đó là niềm tin vào Đảng, vào Nhân dân và con đường dân tộc đã lựa chọn.

Từ đó, ông nhìn thấy sự tiếp nối giữa hai văn kiện cách nhau gần một phần tư thế kỷ: Tuyên ngôn Độc lập là lời thề giữ vững nền độc lập vừa giành được, còn Di chúc là lời căn dặn tiếp tục thực hiện lời thề ấy.

Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định lời thề quyết tâm giữ vững độc lập, và Di chúc là một lời căn dặn Đảng ta phải tiếp tục thực hiện lời thề ấy, tiếp tục giữ vững độc lập, tự do, tiếp tục đưa đất nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục chăm lo cho toàn thể Nhân dân”, TS Chu Đức Tính nói.

Anh Văn

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/cau-hoi-khong-co-trong-kich-ban-tai-quang-truong-ba-dinh-chieu-2-9-1945-ar1036293.html