Chi phí tăng mạnh, đơn hàng sụt giảm: Doanh nghiệp đối mặt với cú sốc từ xung đột tại Trung Đông
Theo khảo sát của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, tác động của xung đột tại Trung Đông đã tạo nên những áp lực thực tế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, ghi nhận cao hơn ở các ngành gắn trực tiếp với nhiên liệu, vận tải, xuất nhập khẩu, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và chuỗi cung ứng quốc tế.

Doanh nghiệp trong nước đang phải gánh chi phí đầu vào tăng cao cũng như khó khăn khi tìm đầu ra cho sản phẩm trong bối cảnh bị tác động bởi tình hình địa-chính trị trên thế giới. (Ảnh minh họa: THÀNH ĐẠT)
Chi phí sản xuất tăng từ 5-10%
Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV, Hội đồng tư vấn cải cách Thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ) đã phối hợp với Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính triển khai khảo sát nhanh để đánh giá tác động của xung đột quân sự Trung Đông lên hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Có tới 87,7% doanh nghiệp khảo sát cho biết chi phí đầu vào tăng, trong đó 50,4% đánh giá tăng mạnh. Phần lớn doanh nghiệp ghi nhận mức tăng trong khoảng 5-10%, đặc biệt có 18,4% doanh nghiệp cho biết chi phí tăng hơn 20%.
Nguyên nhân chính đến từ giá năng lượng, giá nguyên vật liệu, chi phí logistics và chi phí tài chính. Trong đó, các doanh nghiệp logistics-vận tải, thương mại-xuất nhập khẩu, sản xuất công nghiệp và xây dựng là những nhóm chịu áp lực lớn hơn cả. Kết quả này cho thấy nếu không có giải pháp ứng phó phù hợp, áp lực chi phí có thể tiếp tục lan sang giá thành, lợi nhuận, dòng tiền, khả năng duy trì đơn hàng và sức chống chịu của doanh nghiệp nói chung.

Nghiên cứu của Ban IV về những tác động của cuộc xung đột tại Trung Đông đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong nước. (Nguồn: Ban IV)
Áp lực về đầu ra cho sản phẩm
Khảo sát cho thấy 52,2% doanh nghiệp đã bị ảnh hưởng bởi gián đoạn vận tải quốc tế và logistics; biểu hiện rõ nhất là giá cước vận tải tăng, thời gian vận chuyển kéo dài và phát sinh thêm chi phí giao nhận. Phần lớn doanh nghiệp ghi nhận chi phí logistics tăng từ 5-15%, đặc biệt có 8,1% doanh nghiệp cho biết chi phí logistics tăng hơn 30%. Đồng thời, 53,5% doanh nghiệp cho biết bị giảm đơn hàng tại các thị trường xuất khẩu, chủ yếu tại châu Á và Trung Đông.
Điều này cho thấy tác động từ xung đột tại Trung Đông không chỉ đến đầu vào mà đã bắt đầu lan sang đầu ra, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện đơn hàng, năng lực cạnh tranh và khả năng duy trì thị trường của doanh nghiệp.
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia quốc tế, trong nước, xung đột địa-chính trị không phải là các sự kiện có tính “ngắn hạn, trước mắt” mà có thể trở thành bối cảnh phức tạp và tạo ra nhiều hệ lụy khó lường.
Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân nhận định cú sốc địa chính trị bên ngoài đang truyền dẫn khá nhanh vào nền kinh tế trong nước thông qua các chiều cạnh khác nhau.
Bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở rất cao, trong đó tăng trưởng GDP phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu và các dòng dịch chuyển xuyên biên giới, các động lực tăng trưởng từ bên ngoài của Việt Nam sẽ chịu tác động tiêu cực, vì vậy những cú sốc này sẽ hưởng trực tiếp đến triển vọng tăng trưởng kinh tế trong năm 2026, tới mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Chính phủ đã đề ra.
Tái cấu trúc nền kinh tế trong nước từ biến động bên ngoài
“Trong nguy vẫn có cơ”, trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt khẳng định. Ông phân tích, quá trình tái cơ cấu chuỗi thương mại và chuỗi đầu tư toàn cầu sẽ được thúc đẩy nhanh hơn thông qua tác động của xung đột địa-chính trị và “Việt Nam, với lợi thế ổn định chính trị, an ninh và đối ngoại cân bằng, có thể trở thành điểm đến của làn sóng dịch chuyển sản xuất và đầu tư mới”.
Đồng quan điểm với Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, Ban IV cho biết, nhiều chuyên gia đánh giá việc khủng hoảng chuỗi cung ứng lương thực thế giới đang có nguy cơ lớn xảy ra do các xung đột quân sự đặc biệt là Mỹ với Iran. Đây là cơ hội để Việt Nam thực sự phát huy vai trò mạnh mẽ và gia tăng vị thế trong chuỗi cung lương thực toàn cầu.
Trước bối cảnh nêu trên, Ban IV đã đề xuất những giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp; đồng thời chủ động ứng phó trước những tác động từ cuộc xung đột tại Trung Đông.
Theo đó, bên cạnh các việc bình ổn giá năng lượng, giảm áp lực chi phí đầu vào và hỗ trợ ổn định nguồn cung, sớm triển khai các giải pháp hỗ trợ tín dụng, cơ cấu nợ, giảm lãi suất và cải thiện dòng tiền cho doanh nghiệp.
Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng mạnh và khả năng tiếp cận vốn, tiếp cận thị trường bị ảnh hưởng và dự báo còn kéo dài, cần nghiên cứu các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp duy trì thanh khoản và vốn lưu động, nhất là đối với các ngành chịu tác động mạnh, doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nông nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung. Các giải pháp có thể bao gồm hỗ trợ lãi suất, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giãn nợ, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng ngắn hạn và đẩy nhanh hoàn thuế để tạo dư địa dòng tiền cho doanh nghiệp duy trì hoạt động.
Bên cạnh đó, cần tập trung thảo luận và đối thoại công-tư để đa dạng hóa nguồn cung, tìm kiếm tuyến vận tải thay thế, mở rộng thị trường mới và giảm phụ thuộc vào một số khu vực, tuyến cung ứng hoặc nhà cung cấp có rủi ro cao.
Ban IV kiến nghị, trong bối cảnh doanh nghiệp đang chịu tác động từ bên ngoài, cần giảm bớt gánh nặng thủ tục và tăng tính ổn định, nhất quán trong thực thi chính sách trong nước, nhất là các thủ tục liên quan đến nhập khẩu, hoàn thuế, tiếp cận vốn… và tăng cường hướng dẫn, tháo gỡ vướng mắc trong thực thi để doanh nghiệp có điều kiện tập trung nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và ứng phó rủi ro.
Điều cốt lõi, trước những biến động không ngừng của tình hình địa-chính trị trên thế giới trong thời gian qua, Việt Nam cần kiên định thúc đẩy tăng trưởng bền vững dựa trên năng lực nội sinh. Theo Ban IV, cần cấp thiết thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa việc thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị bởi năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ giúp tiết kiệm chi phí, tăng năng suất lao động và cũng là cơ chế bảo đảm an toàn, an ninh kinh tế, công nghệ quốc gia, giúp Việt Nam tự lực, tự cường, và giảm thiểu những tác động từ những cú sốc bên ngoài.












