'Chìa khóa' tái cấu trúc đô thị và bài toán kinh tế môi trường

PGS.TS Lưu Đức Hải, chuyên gia hàng đầu về quy hoạch môi trường đô thị, khẳng định Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng chính là 'chìa khóa vàng' để tái cấu trúc không gian Thủ đô, song cũng thẳng thắn lưu ý các bài toán về kinh tế môi trường của dự án.

Lời tòa soạn

Trong 2 bài viết trước của tuyến bài “Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng dưới góc nhìn kinh tế môi trường”, Tạp chí Kinh tế Môi trường đã khơi mở khát vọng “đánh thức dòng sông di sản” và khẳng định tính cấp thiết của việc áp dụng bộ công cụ phân tích chi phí - lợi ích (CBA) đối với “siêu dự án” sông Hồng. Ở bài viết tiếp theo, tác giả sẽ đi sâu vào bài toán quản trị khi Nghị quyết số 18/NQ-HĐND chính thức bước vào giai đoạn hậu phê duyệt.

Khi “siêu dự án” Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng dịch chuyển từ chủ trương trên giấy vào thực tế, một thách thức lớn được đặt ra: Làm sao để quỹ đất đối ứng khổng lồ không bị áp lực thương mại hóa ngắn hạn làm mờ nhạt đi vai trò “hành lang xanh sinh thái”, và làm thế nào để hạ tầng kỹ thuật trị giá hàng trăm nghìn tỷ đồng có thể tồn tại an toàn trước một dòng sông mẹ có chế độ thủy văn vô cùng phức tạp?

Trò chuyện xung quanh nội dung này, PV Tạp chí Kinh tế Môi trường đã trao đổi với PGS.TS Lưu Đức Hải - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Kinh tế môi trường Việt Nam, chuyên gia hàng đầu về quy hoạch môi trường đô thị. Khẳng định quyết sách của Hà Nội chính là “chìa khóa vàng” để tái cấu trúc không gian Thủ đô, song, dưới góc nhìn của một nhà kinh tế môi trường, ông cũng thẳng thắn vạch ra những “ranh giới bất khả xâm phạm” cần giám sát chặt chẽ để chặn đứng nguy cơ “bê tông hóa” ven sông. Đặc biệt, sau bài học về quản trị rủi ro dòng chảy từ siêu bão Yagi, PGS.TS Lưu Đức Hải nhấn mạnh: Hãy kiến tạo một “đại lộ thích ứng với lũ” dựa trên mô hình “thành phố bọt biển”, coi nước là một thành phần của đô thị thay vì tìm mọi cách xây kè cứng để chống lại tự nhiên bằng mọi giá!

Tạo chí điện tử Kinh tế Môi trường xin trân trọng giới thiệu đến độc giả những chia sẻ đầy thú vị của PGS.TS Lưu Đức Hải!

Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng: “Chìa khóa” tái cấu trúc đô thị và bài toán kinh tế môi trường

PGS.TS Lưu Đức Hải - chuyên gia hàng đầu về quy hoạch môi trường đô thị - khẳng định Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng chính là “chìa khóa vàng” để tái cấu trúc không gian Thủ đô, song cũng thẳng thắn lưu ý các bài toán về kinh tế môi trường của dự án.

 PGS.TS Lưu Đức Hải - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Kinh tế môi trường Việt Nam.

PGS.TS Lưu Đức Hải - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Kinh tế môi trường Việt Nam.

Minh bạch cơ chế để chặn đứng nguy cơ “bê tông hóa” ven sông

Thưa PGS.TS Lưu Đức Hải, liên quan đến Nghị quyết số 18/NQ-HĐND về việc quyết định chủ trương đầu tư dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, PGS.TS nhận định như thế nào về ý nghĩa lịch sử và tầm quan trọng mang tính bước ngoặt của quyết sách này? Phải chăng đây chính là “chìa khóa” để Hà Nội hiện thực hóa khát vọng dịch chuyển trục phát triển, đưa sông Hồng trở thành tâm điểm xanh sinh thái, định hình diện mạo đô thị Thủ đô trong tương lai?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Nghị quyết số 18/NQ-HĐND ngày 11/5/2026 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về chủ trương đầu tư dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng theo tôi có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình phát triển của Thủ đô Hà Nội lấy sông Hồng làm trung tâm. Trong suốt chiều dài lịch sử, sông Hồng không chỉ là dòng sông hình thành nền văn minh Thăng Long - Hà Nội mà còn là không gian văn hóa, sinh thái và địa chính trị đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, đô thị Hà Nội phát triển theo xu hướng quay lưng ra sông, khiến tiềm năng to lớn của không gian hai bên bờ sông Hồng chưa được khai thác tương xứng.

Tôi cho rằng quyết sách này có ba ý nghĩa rất lớn.

Thứ nhất, về không gian phát triển đô thị, dự án sẽ góp phần tái cấu trúc Hà Nội theo hướng cân bằng hơn giữa khu vực trung tâm lịch sử với không gian mở phía Đông và phía Bắc sông Hồng. Điều này giúp giảm áp lực cho khu vực nội đô cũ, đồng thời mở ra quỹ không gian phát triển mới có giá trị rất lớn.

Thứ hai, về môi trường và sinh thái, nếu được triển khai đúng định hướng xanh và bền vững, đây sẽ là cơ hội hình thành một “hành lang sinh thái” quy mô lớn, kết nối cây xanh, mặt nước, giao thông xanh và các không gian văn hóa cộng đồng. Sông Hồng khi đó không chỉ là dòng chảy thủy văn mà sẽ trở thành “trục sinh thái - văn hóa - cảnh quan” của Thủ đô.

Thứ ba, về giá trị văn hóa và bản sắc đô thị, dự án có thể góp phần khôi phục mối quan hệ lịch sử giữa người Hà Nội với dòng sông mẹ của mình. Một đô thị lớn trên thế giới thường có biểu tượng gắn với dòng sông trung tâm; Hà Nội hoàn toàn có thể xây dựng hình ảnh một đô thị xanh, hiện đại nhưng vẫn đậm chiều sâu văn hiến dựa trên không gian sông Hồng.

Có thể nói, Nghị quyết này chính là một trong những “chìa khóa” quan trọng để Hà Nội hiện thực hóa khát vọng dịch chuyển trục phát triển đô thị trong tương lai.

Tuy nhiên, khác với các con sông khác, sông Hồng có lưu vực lớn 169.000 km2, trong đó 48% diện tích thuộc Trung Quốc, lưu lượng dòng chảy biến động lớn, mùa khô có thời điểm chỉ khoảng 500-600 m3/s nhưng mùa lũ có thể đạt 20.000-25.000 m3/s. Nguy cơ lũ lụt trên sông Hồng thường xuyên xảy ra hàng năm với mực nước lũ tại trạm Long Biên (Hà Nội) cấp I -9,5m, cấp II 10,5m, cấp III 11,5m.

Do đó, vấn đề duy trì khả năng thoát lũ của sông Hồng và phòng ngừa tác hại của ngập do lũ đối với các công trình được đầu tư của dự án cần được quan tâm đánh giá và giải pháp phòng ngừa. Bài học từ tác động ngập úng và ứng phó của chính quyền do cơn bão Yagi gây ra năm 2024 cần luôn ghi nhớ và đưa vào xem xét để lựa chọn được phương án tối ưu cho dự án này.

 Cầu Nhật Tân bắc qua sông Hồng.

Cầu Nhật Tân bắc qua sông Hồng.

Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm xác định Đại lộ cảnh quan sông Hồng là một trong 9 trục động lực phát triển, vừa là không gian xanh trung tâm, vừa là trục kinh tế, thương mại, văn hóa sáng tạo. Dưới góc độ quy hoạch môi trường đô thị, những vấn đề cốt lõi nào cần được xem xét và giám sát chặt chẽ ở các bước tiếp theo để đảm bảo quỹ đất đối ứng phục vụ dự án phát triển đúng hướng, không bị áp lực thương mại hóa làm mờ nhạt đi vai trò “trục không gian xanh trung tâm”, thưa PGS.TS?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Theo tôi, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, bởi thành công của Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng không chỉ nằm ở quy mô đầu tư hay giá trị hạ tầng, mà quan trọng hơn là Hà Nội có giữ được bản chất của một “trục không gian xanh trung tâm” hay không, nhất là để thực hiện dự án này cần tiến hành di dân quy mô lớn.

Trong thực tế phát triển đô thị ở nhiều nơi, khi các dự án hạ tầng lớn hình thành, áp lực gia tăng giá đất và xu hướng thương mại hóa thường diễn ra rất mạnh. Nếu không có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, không gian công cộng và không gian sinh thái rất dễ bị thu hẹp dần bởi các hoạt động khai thác bất động sản ngắn hạn. Vì vậy, tôi cho rằng ở các bước tiếp theo cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề cốt lõi sau.

Trước hết, phải xác lập rõ “ranh giới bất khả xâm phạm” đối với hành lang xanh và không gian công cộng ven sông. Quy hoạch cần ưu tiên tuyệt đối cho cây xanh, mặt nước, công viên mở, quảng trường sinh thái, đường đi bộ và các không gian phục vụ cộng đồng. Đây phải được coi là tài sản công cộng chiến lược của Thủ đô chứ không chỉ là quỹ đất có giá trị thương mại.

Thứ hai, việc khai thác quỹ đất đối ứng cần được đặt dưới nguyên tắc phát triển cân bằng và có giới hạn sinh thái rõ ràng. Không nên chạy theo mô hình “bê tông hóa ven sông” bằng các cụm cao tầng dày đặc hoặc thương mại hóa quá mức. Hà Nội cần hướng tới mô hình đô thị sinh thái mật độ hợp lý, tiết kiệm năng lượng, phát thải thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ ba, cần xây dựng cơ chế giám sát môi trường chiến lược xuyên suốt toàn bộ quá trình triển khai dự án. Không chỉ đánh giá tác động môi trường ở từng hạng mục riêng lẻ, mà phải theo dõi tổng thể các yếu tố như khả năng thoát lũ, chất lượng nước sông Hồng, đa dạng sinh học, vi khí hậu đô thị, tỷ lệ thấm nước tự nhiên và cân bằng sinh thái toàn vùng ven sông.

Thứ tư, phải bảo đảm tính minh bạch và lợi ích cộng đồng trong quản lý quỹ đất. Những khu vực có giá trị thương mại cao cần được kiểm soát chặt để tránh nguy cơ biến không gian ven sông thành khu vực khép kín phục vụ lợi ích cục bộ. Người dân phải được tiếp cận rộng rãi với không gian mặt nước, công viên và các tiện ích công cộng.

Ngoài ra, tôi cho rằng yếu tố văn hóa cũng rất quan trọng. Sông Hồng không chỉ là trục cảnh quan mà còn là trục lịch sử - văn hóa của Thăng Long - Hà Nội. Vì vậy, quy hoạch cần bảo tồn các làng cổ ven sông, không gian di sản, bến nước, cây xanh lâu năm và các yếu tố bản sắc đặc trưng của vùng đồng bằng sông Hồng, tránh tình trạng phát triển đồng dạng, mất đi chiều sâu văn hóa đô thị.

Nếu Hà Nội kiểm soát tốt những vấn đề này, Đại lộ cảnh quan sông Hồng sẽ không chỉ là động lực phát triển kinh tế mà còn trở thành “lá phổi xanh”, “hành lang sinh thái” và biểu tượng phát triển bền vững của Thủ đô trong thế kỷ tới.

 Phối cảnh Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng.

Phối cảnh Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng.

Mô hình “Thành phố bọt biển” và bài toán quản trị rủi ro dòng chảy

Một trục đại lộ cảnh quan tích hợp đa mục tiêu (kinh tế, giao thông, văn hóa, môi trường) đòi hỏi sự phối hợp liên ngành rất phức tạp giữa các lĩnh vực xây dựng, giao thông, môi trường và nông nghiệp. Để đưa Nghị quyết 18 vào cuộc sống một cách thuận lợi và hiệu quả nhất, theo PGS.TS, Hà Nội cần chuẩn bị thêm những cơ chế điều hành đặc thù hay quy chế quản lý kiến trúc cảnh quan ven sông như thế nào trong giai đoạn hậu phê duyệt này?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Theo tôi, sau khi Nghị quyết 18 được thông qua, thách thức lớn nhất không còn nằm ở chủ trương mà nằm ở năng lực tổ chức thực hiện. Một dự án có quy mô lớn, tính chất liên ngành và tác động dài hạn như Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng đòi hỏi phải có cơ chế điều hành đủ mạnh, đủ linh hoạt và có tính tích hợp cao thì mới có thể triển khai đồng bộ, tránh tình trạng quy hoạch tốt nhưng thực hiện phân tán, chồng chéo hoặc bị điều chỉnh cục bộ theo từng giai đoạn.

Thứ nhất, Thành phố cần sớm ban hành Quy chế quản lý kiến trúc - cảnh quan ven sông Hồng với các tiêu chí mang tính pháp lý rõ ràng và ổn định lâu dài. Quy chế này cần quy định cụ thể về:

Giới hạn chiều cao và mật độ xây dựng ở từng khu vực ven sông;
Tỷ lệ tối thiểu dành cho cây xanh, mặt nước và không gian công cộng;
Hành lang thoát lũ và khoảng lùi sinh thái bắt buộc;
Tiêu chuẩn kiến trúc xanh, tiết kiệm năng lượng và thích ứng khí hậu;
Kiểm soát hình thái đô thị để bảo đảm tầm nhìn ra sông và tính liên tục của cảnh quan;
Bảo tồn các không gian văn hóa, làng nghề và di sản ven sông.

Thứ hai, để thực hiện di một lượng lớn dân cư đã nhiều đời và có cuộc sống gia đình gắn bó chặt chẽ với các khu dân cư ngoài đê cần phải nghiên cứu làm sao những người dân phải di tản đến nới khác có được chỗ ở tốt hơn, đảm bảo được sinh kế bình thường, chỗ học hành cho con cái họ…

Thứ ba, tôi cho rằng Hà Nội cần áp dụng cơ chế đánh giá môi trường chiến lược và giám sát độc lập trong suốt quá trình triển khai. Với các dự án quy mô lớn ven sông, tác động môi trường thường không xuất hiện ngay mà tích lũy theo thời gian. Vì vậy cần có hệ thống quan trắc dài hạn đối với chất lượng nước, biến động dòng chảy, khả năng tiêu thoát lũ, sụt lún, vi khí hậu và đa dạng sinh học.

Thứ tư, cần thiết lập cơ chế tài chính minh bạch đối với quỹ đất đối ứng và nguồn lực đầu tư. Một dự án lớn như vậy rất dễ chịu áp lực khai thác thương mại để bù đắp chi phí. Do đó, Thành phố cần công khai nguyên tắc sử dụng đất, tỷ lệ tái đầu tư cho hạ tầng xanh, cũng như cơ chế phân bổ lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và cộng đồng dân cư.

Nếu xây dựng được một cơ chế quản trị hiện đại, minh bạch và liên ngành như vậy, Hà Nội sẽ có cơ hội biến sông Hồng thành trục phát triển kiểu mẫu của đô thị xanh, sinh thái và văn hiến trong tương lai.

Thưa PGS.TS, Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm hướng tới mô hình đô thị “đa tầng - đa lớp” và mô hình “thành phố bọt biển”, trong khi Dự án Trục đại lộ ảnh quan sông Hồng lại bao gồm hàng loạt công trình kè và chỉnh trị dòng chảy. Từ thực tiễn quy hoạch đô thị và lăng kính của Hội Kinh tế môi trường Việt Nam, PGS.TS có cho rằng việc chúng ta đầu tư mạnh vào hệ thống hạ tầng xanh lúc này không chỉ đơn thuần là chi phí để “chống ngập” hay “làm đẹp”, mà thực chất là một bài toán đầu tư sinh lời khổng lồ? Làm thế nào để Hà Nội lượng hóa được những lợi ích từ việc giảm thiểu rủi ro biến đổi khí hậu, qua đó bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế và mục tiêu bảo vệ môi trường bền vững?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Đúng như vậy! Theo tôi, khi nói về Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng thì không thể chỉ nhìn dưới góc độ giao thông, cảnh quan hay phát triển đô thị, mà phải đặt vấn đề an toàn thoát lũ và thích ứng biến đổi khí hậu lên hàng đầu. Đây mới là yếu tố quyết định tính bền vững của toàn bộ dự án trong dài hạn.

Sông Hồng là hệ thống sông lớn, có chế độ thủy văn rất phức tạp, lưu lượng mùa lũ biến động mạnh. Vì vậy, bất kỳ sự can thiệp nào vào bãi sông, dòng chảy hay hành lang thoát lũ đều phải được tính toán cực kỳ thận trọng. Nếu không kiểm soát tốt, nguy cơ lớn nhất là làm thu hẹp không gian chứa lũ tự nhiên, cản trở dòng chảy hoặc gia tăng áp lực ngập úng cho cả khu vực nội đô Hà Nội trong các kịch bản mưa cực đoan và lũ lớn.

Tôi cho rằng có ba vấn đề cần được nhìn nhận.

Thứ nhất, đại lộ cảnh quan ven sông không thể được quy hoạch như một tuyến giao thông đô thị thông thường. Một phần không gian của dự án phải chấp nhận chức năng “không gian ngập theo mùa”. Điều đó có nghĩa là ở những cao trình thấp, cần thiết kế theo hướng thích ứng linh hoạt với nước thay vì tìm mọi cách bê tông hóa và chống lại tự nhiên. Đây chính là tinh thần của mô hình “thành phố bọt biển” mà nhiều quốc gia đang áp dụng.

Thứ hai, cần đặc biệt thận trọng với hệ thống kè cứng và chỉnh trị dòng chảy. Nếu làm quá mức hoặc thiếu cơ sở khoa học, kè cứng có thể làm tăng tốc dòng chảy, thay đổi diễn biến bồi lở và đẩy rủi ro sang khu vực khác. Trong nhiều trường hợp, giải pháp kè sinh thái mềm, hành lang ngập nước tự nhiên và vùng đệm cây xanh lại hiệu quả bền vững hơn về lâu dài.

Thứ ba, nguy cơ ngập úng của chính tuyến đại lộ phải được xem là bài toán kỹ thuật trung tâm ngay từ đầu. Nếu tuyến đường nằm trong vùng bãi sông hoặc vùng có nguy cơ ngập theo chu kỳ, cần xác định rõ: đoạn nào được phép ngập tạm thời, đoạn nào phải bảo đảm giao thông liên tục, kịch bản vận hành khi xuất hiện lũ lớn, khả năng thoát nước khi xảy ra mưa cực đoan kết hợp nước sông dâng cao.

Nói cách khác, đây phải là “đại lộ thích ứng với lũ” chứ không thể là đại lộ chống lũ bằng mọi giá. Theo góc nhìn kinh tế môi trường, tôi cho rằng đầu tư cho không gian thoát lũ tự nhiên và hạ tầng xanh thực chất rẻ hơn rất nhiều so với chi phí khắc phục hậu quả ngập úng sau này. Nếu chúng ta lấp dần bãi sông để phát triển thương mại hoặc bê tông hóa quá mức, Hà Nội có thể phải trả giá rất lớn bằng rủi ro ngập sâu, đảo nhiệt đô thị và suy giảm khả năng chống chịu khí hậu trong tương lai.

Quy hoạch Đại lộ sông Hồng cần coi nước là một thành phần của đô thị chứ không phải đối tượng phải loại bỏ hoàn toàn. Khi giữ được không gian chứa lũ, hành lang sinh thái và khả năng thấm nước tự nhiên, Hà Nội mới có thể phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan. Đây cũng là lý do vì sao mọi quyết định liên quan đến cao trình xây dựng, mật độ công trình, quy mô kè và khai thác quỹ đất ven sông cần được đánh giá bằng các mô hình thủy văn - thủy lực hiện đại với tầm nhìn dài hạn hàng chục năm, thậm chí tính đến các kịch bản khí hậu cực đoan trong tương lai.

Xin cảm ơn PGS.TS Lưu Đức Hải về những chia sẻ này!

Phúc Lâm

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/chia-khoa-tai-cau-truc-do-thi-va-bai-toan-kinh-te-moi-truong-113405.html