Chuyển đổi chăn nuôi trong khu dân cư: Có lộ trình để người dân thích ứng

Tại nhiều khu dân cư trên địa bàn các phường trung tâm, hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm trong hộ gia đình đã tồn tại từ nhiều năm. Tuy nhiên, cùng với quá trình đô thị hóa, mật độ dân cư ngày càng tăng, không gian sản xuất nông nghiệp dần thu hẹp.

Hoạt động chăn nuôi xen kẽ trong khu dân cư cũng bộc lộ những bất cập, nhất là nguy cơ ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sinh hoạt của các hộ xung quanh. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải từng bước sắp xếp lại hoạt động chăn nuôi, phù hợp với điều kiện phát triển đô thị.

Gia đình bà Trịnh Thị Gái, phường Quyết Thắng, đã thu hẹp quy mô chăn nuôi, dự kiến chuyển sang kinh doanh nhà trọ cho thuê để ổn định sinh kế lâu dài.

Gia đình bà Trịnh Thị Gái, phường Quyết Thắng, đã thu hẹp quy mô chăn nuôi, dự kiến chuyển sang kinh doanh nhà trọ cho thuê để ổn định sinh kế lâu dài.

Tại tổ dân phố 2, phường Quyết Thắng, trước đây nhiều hộ dân duy trì chăn nuôi lợn, gà để phát triển kinh tế gia đình. Đến nay, khi khu dân cư ngày càng đông đúc, một số hộ đã chủ động giảm quy mô đàn vật nuôi, tính toán chuyển sang các hoạt động kinh tế khác.

Bà Đỗ Thị Thành, Tổ trưởng tổ dân phố 2, phường Quyết Thắng, cho biết: Trước đây, địa bàn chủ yếu là khu vực nông thôn, chăn nuôi hộ gia đình khá phổ biến. Hiện nay, khi đô thị phát triển, người dân cũng nhận thấy việc duy trì chuồng trại trong khu dân cư không còn phù hợp, nhất là về vệ sinh môi trường. 

Từ thực tế tại phường Quyết Thắng có thể thấy, việc đưa hoạt động chăn nuôi ra khỏi khu dân cư không chỉ là di chuyển chuồng trại hay giảm số lượng vật nuôi, mà còn là quá trình thay đổi phương thức sản xuất, tạo sinh kế phù hợp với điều kiện phát triển mới.

Theo Nghị quyết số 50/2026/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Thái Nguyên, khu vực không được phép chăn nuôi gia súc, gia cầm được xác định theo hai tiêu chí: thôn, xóm, tổ dân phố có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65% trở lên và mật độ dân số bình quân trên diện tích tự nhiên từ 1.000 người/km² trở lên.

Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã ban hành quyết định công bố danh sách 189 thôn, xóm, tổ dân phố thuộc 17 xã, phường nằm trong khu vực không được phép chăn nuôi.

Các khu vực này tập trung chủ yếu tại những địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh, dân cư đông đúc. Ngoài các phường trung tâm, quy định còn áp dụng tại một số khu dân cư tập trung thuộc các xã. 

Theo quy định, UBND cấp xã có trách nhiệm thống kê, chốt danh sách các cơ sở thuộc diện phải di dời hoặc chấm dứt chăn nuôi; tổ chức tuyên truyền, ký cam kết và xây dựng phương án thực hiện.

Thời gian thực hiện tối đa là 36 tháng kể từ ngày Nghị quyết số 50/2026/NQ-HĐND có hiệu lực, đồng thời khuyến khích các cơ sở chủ động hoàn thành sớm hơn lộ trình đã cam kết.

Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị quyết số 50/2026/NQ-HĐND là chính sách hỗ trợ các cơ sở chăn nuôi thuộc diện phải di dời hoặc chuyển đổi ngành nghề. Chính sách này nhằm giảm bớt khó khăn về chi phí, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân thực hiện quy định.

Cụ thể, đối với cơ sở phải di dời, tỉnh hỗ trợ không quá 50% chi phí mua sắm thiết bị công trình và thiết bị công nghệ chăn nuôi, với mức tối đa 10 tỷ đồng/cơ sở; hỗ trợ không quá 50% chi phí di dời vật nuôi đến địa điểm mới phù hợp, tối đa 500 triệu đồng/cơ sở.

Người dân được Nhà nước hỗ trợ thuốc sát khuẩn để vệ sinh, tiêu độc chuồng trại, góp phần phòng ngừa dịch bệnh và bảo vệ môi trường.

Người dân được Nhà nước hỗ trợ thuốc sát khuẩn để vệ sinh, tiêu độc chuồng trại, góp phần phòng ngừa dịch bệnh và bảo vệ môi trường.

Đối với người chuyển từ chăn nuôi sang nghề khác, tỉnh hỗ trợ 100% chi phí đào tạo, tập huấn, với mức tối đa không quá 3 lần mức lương cơ sở/người.

Có thể thấy, chính sách hỗ trợ đã tính đến cả hai hướng chuyển đổi: tiếp tục phát triển chăn nuôi tại địa điểm phù hợp hoặc chuyển sang ngành nghề khác.

Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, việc triển khai tại cơ sở cần sát với nhu cầu, khả năng và điều kiện thực tế của từng hộ dân.

Với những cơ sở có quy mô sản xuất tương đối lớn, còn nhu cầu tiếp tục chăn nuôi, việc di dời đến địa điểm đáp ứng yêu cầu về môi trường và quy hoạch có thể là phương án phù hợp.

Trong khi đó, đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, không có điều kiện đầu tư chuồng trại mới, chuyển đổi sang kinh doanh dịch vụ, thương mại hoặc ngành nghề khác có thể là lựa chọn khả thi hơn.

Vì vậy, bên cạnh việc phổ biến quy định, chính quyền cơ sở cần phân loại cụ thể các nhóm hộ, nhất là những gia đình lớn tuổi, phụ thuộc nhiều vào thu nhập từ chăn nuôi, để hướng dẫn tiếp cận chính sách phù hợp.

Với những trường hợp không còn khả năng chuyển sang nghề mới, cần quan tâm kết nối các chương trình an sinh xã hội, hỗ trợ sinh kế theo đúng điều kiện, đối tượng quy định.

Quá trình thực hiện cũng cần bảo đảm công khai, minh bạch về điều kiện và mức hỗ trợ, giúp người dân chủ động lựa chọn phương án chuyển đổi. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết, không để phát sinh các cơ sở chăn nuôi mới tại những khu vực đã được xác định không được phép chăn nuôi.

Một lộ trình rõ ràng, sự hướng dẫn cụ thể và chính sách hỗ trợ đến đúng đối tượng sẽ là những yếu tố quan trọng để người dân chủ động chuyển đổi. 

Phương Thảo

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/chuyen-doi-chan-nuoi-trong-khu-dan-cu-co-lo-trinh-de-nguoi-dan-thich-ung