Chuyện kể bên ấm trà
Có những câu chuyện không trong trang sách mà được lưu giữ qua lời kể của người già, ký ức của những người làm chè và những buổi quây quần bên ấm trà nóng. Ở Thái Nguyên, chén trà không chỉ là thức uống quen thuộc mà còn là cách người ta mở đầu câu chuyện, trao nhau tình cảm và gìn giữ nếp sống cộng đồng.

Bên bếp lửa hồng, bà Hảo đun nước, mời khách thưởng trà theo nếp đón tiếp thân tình của người bản địa.
Chén trà mở đầu câu chuyện
Trên bếp lửa bập bùng dưới mái nhà sàn tại Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải (xã Tân Cương), chiếc siêu tỏa hơi nước ấm, phía gác bếp là những dải thịt ba chỉ hun khói đã sẫm màu. Giữa không gian bình dị ấy, tôi được bà Nông Thị Hảo mời thưởng trà. Bà Hảo vừa rót nước vừa thủng thẳng kể: Các cụ ngày xưa thường mở đầu câu chuyện bằng một chén trà hoặc một miếng trầu. Ở đây, chúng tôi chọn trà để bắt đầu câu chuyện.
Bà hướng dẫn tôi đưa chén trà lại gần, ngửi hương trước khi nhấp một ngụm nhỏ. Vị chát hiện rõ nơi đầu lưỡi, rồi vị ngọt từ từ đọng lại nơi cuống họng. Chén trà không cầu kỳ, nhưng có dư vị khiến người thưởng thức muốn nhấp thêm một ngụm nữa.
Từ hương vị ấy, câu chuyện chuyển sang những đồi chè và đôi bàn tay làm trà của người làng Thái Hải. Chè được bà con chăm sóc theo hướng hữu cơ, hái về phải được làm héo đến độ thích hợp, đạt độ dẻo rồi mới đưa vào vò. Trước đây, các cụ vò chè bằng tay, nay, máy móc hỗ trợ một phần công việc. Sau khi vò, chè được sao khô rồi tiếp tục công đoạn lấy hương. Bà Hảo giải thích: Chè phải tự lên hương, đến lúc thấy thơm, nhiệt độ vừa đủ thì mới đưa ra.

Từ chén trà nóng đến đĩa trà lam giản dị, sự hiếu khách được gửi gắm qua những điều bình dị thường ngày.

Chén trà nóng được rót mời khách, mở đầu câu chuyện thân tình bên bếp lửa Thái Hải.
Nghe bà kể, tôi hiểu thêm rằng để có một chén trà ngon, người làm chè phải tích lũy kinh nghiệm qua từng mẻ sao, cảm nhận độ khô và hương thơm bằng đôi tay quen việc. Đó là thứ kinh nghiệm không dễ có được chỉ qua những công thức truyền lại.
Với người dân làng Thái Hải, làm chè còn gắn với mong muốn giữ gìn nguồn thực phẩm sạch cho gia đình. Hạn chế sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng, kiên trì chăm sóc cây chè theo hướng hữu cơ đòi hỏi nhiều công sức và sự nhẫn nại. "Chúng tôi làm để mình uống sạch, ăn sạch, bảo đảm sức khỏe" - bà Hảo bộc bạch.
Theo bà, có những vị khách đã thưởng trà ở Thái Hải rồi quay về tìm mua chè. Họ thích vị chát đậm ban đầu và cái ngọt lưu lại sau khi uống. Với người làm trà, việc khách nhớ hương vị rồi tìm trở lại chính là sự ghi nhận đáng quý cho công sức chăm chè, sao chè.
Chén trà vơi dần, bà Hảo mời tôi thưởng thức bánh trà lam do gia đình tự làm. Miếng bánh mềm dẻo, phủ lớp bột nếp mỏng, có vị ngọt dịu. Ăn một miếng bánh, nhấp thêm ngụm trà, vị ngọt hòa cùng vị chát, tạo nên cảm giác thân thuộc. Câu chuyện bên bếp lửa cứ thế nối dài, từ cách làm chè đến những món quà quê giản dị mà người dân dành cho khách.
Phiên chợ không bán, mua
Chén trà bên bếp lửa nhà bà Hảo đã vơi, nhưng câu chuyện về cuộc sống của người dân trong khu làng Thái Hải vẫn còn tiếp nối. Từ cách chăm cây chè, sao chè giữ hương đến nếp đón khách bằng chén nước nóng, tôi nhận ra ở đây những điều bình dị thường ngày cũng góp phần gìn giữ sợi dây gắn kết cộng đồng.
Mang theo dư vị ngọt hậu còn đọng lại nơi cuống họng, tôi tìm đến gia đình chị Lê Thị Nga, Phó Trưởng làng Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải. Bên câu chuyện về ấm trà và nếp sinh hoạt của người dân, chị Nga mở ra một nét văn hóa đặc biệt của bản làng: phiên chợ không mua, không bán.
Theo lời kể của chị Nga, vào dịp cuối tuần, người dân mang đến phiên chợ những sản vật từ vườn nhà, những món đồ còn tốt nhưng chưa có nhu cầu sử dụng để trao tặng người cần. Ai có gì mang đến, ai cần thì nhận. Không có chuyện ngã giá, cũng chẳng đặt nặng chuyện được, mất, phiên chợ là dịp để bà con gặp gỡ, trao nhau những món quà nhỏ và gửi gắm tình cảm qua những việc làm thiết thực.

Gian bếp lửa không chỉ giữ hơi ấm mà còn lưu giữ cách chế biến, bảo quản thực phẩm theo nếp xưa.
Tôi hình dung những món đồ được trao đi không mang giá trị tiền bạc, mà chứa đựng sự quan tâm giữa những người cùng sống trong một bản làng. Người có trao cho người cần, người già gặp người trẻ, những cuộc trò chuyện giản dị giúp tình làng nghĩa xóm thêm gắn bó.
Nhắc đến phiên chợ cuối tuần, ánh mắt chị Nga ánh lên niềm vui: Bản làng đang nỗ lực duy trì phiên chợ, đồng thời tạo thêm cơ hội để du khách trong nước và quốc tế trải nghiệm văn hóa của người dân. Điều mong muốn không chỉ là để khách đến tham quan, mà còn giúp họ hòa mình vào đời sống, hiểu hơn những giá trị được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Nghe chị kể, tôi nghĩ đến chén trà vừa thưởng thức. Một ấm trà được pha bằng sự chăm chút, một món quà quê được mang ra mời khách hay một sản vật được trao cho người dân đều có điểm chung: giá trị không chỉ nằm ở vật chất, mà còn ở tấm lòng của người trao tặng.
Trong câu chuyện về Thái Hải, những vị khách phương xa chúng tôi gặp tại đây như ông Nguyễn Thành Trung, Hà Văn Kim, ông Lê Văn Việt cùng những người tìm đến trải nghiệm văn hóa bản làng cũng góp thêm những cuộc gặp gỡ, giúp nếp sống nơi đây được biết đến rộng rãi hơn.
Chiều buông trên những mái nhà sàn, bếp lửa vẫn hồng, chiếc siêu tiếp tục đun nước đón khách. Rời Thái Hải, tôi mang theo dư vị chén trà và câu chuyện về những người dân bền bỉ gìn giữ nếp làm chè, từ chăm sóc cây chè đến nâng niu hương vị trong từng ấm nước. Với họ, cây chè không chỉ gắn với sinh kế mà còn là một phần nếp sống, hiện diện trong những cuộc gặp gỡ và tình cảm dành cho khách phương xa. Để rồi, khi chia tay, những vị khách mang theo dư vị ấm áp của một vùng đất giàu tình người.
Chén trà rồi sẽ cạn, nhưng câu chuyện bên ấm trà vẫn còn tiếp nối. Bởi ở Thái Hải, gìn giữ văn hóa không chỉ là bảo tồn nhà sàn hay phiên chợ xưa, mà còn nằm trong cách người dân giữ nghề, sống gắn bó và trao nhau sự chân tình mỗi ngày.
Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/chuyen-ke-ben-am-tra-9i3d9z4f
