Đặc khu Hoàng Sa trên bản đồ cổ vẽ vào năm Ngọ

Đặc khu Hoàng Sa của thành phố Đà Nẵng có thời được mang một tên Nôm: Bãi Cát Vàng. Vào một năm Ngọ cách đây 252 năm, địa danh này từng được vẽ vào một tập bản đồ có tên Giáp Ngọ niên bình Nam đồ.

Giáp Ngọ bình Nam đồ vẽ Hoàng Sa. Ảnh: LÊ THÍ

Giáp Ngọ bình Nam đồ vẽ Hoàng Sa. Ảnh: LÊ THÍ

Giáp Ngọ niên bình Nam đồ

Vào năm Giáp Ngọ - 1774, nhận thấy tình hình của Đàng Trong rối ren, trong triều thì Trương Phúc Loan chuyên quyền, tham lam, tàn nhẫn, lòng dân ta thán.

Ngoài thì ba anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa đem binh đánh chiếm thành Quy Nhơn. Chúa Trịnh Sâm ở Đàng Ngoài quyết định đem quân Nam phạt để chấm dứt cuộc Nam - Bắc phân ly đã kéo dài hơn 216 năm (nếu kể từ 1558 khi Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa).

Sau khi nhận tấu trình của Bùi Thế Đạt về tình hình nước sôi lửa bỏng ở Đàng Trong, chúa liền cử Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc làm Bình Nam thượng tướng quân giữ chức Thống tướng, Đoan Quận công Bùi Thế Đạt giữ chức Phó tướng, Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm (thân phụ của Nguyễn Du) giữ chức Tả tướng, thống lĩnh ba sáu vạn quân đi đánh Đàng Trong.

Ngày 29 tháng Chạp năm Giáp Ngọ, Bùi Thế Đạt và Hoàng Ngũ Phúc tiến vào thành Phú Xuân.

Trước khi tiến quân, Đoan quận công Bùi Thế Đạt, trấn thủ Nghệ An đã vẽ dâng lên cho chúa Trịnh Sâm một tập bản đồ mang tên Giáp Ngọ niên bình Nam đồ (甲午年平南圖, bản đồ đánh dẹp phương Nam năm Giáp Ngọ).

Tập bản đồ gồm 15 bức cho biết những thông tin về diện mạo xứ Đàng Trong từ Quảng Bình đến biên giới Cao Miên vào cuối thế kỷ 18.

Tập bản đồ đã góp phần quan trọng vào chiến thắng của quân Trịnh, điều mà suốt 150 năm Trịnh - Nguyễn phân tranh với 7 trận đại chiến, quân Trịnh không làm được (kể từ trận chiến đầu tiên năm 1627).

Đây cũng là tư liệu có giá trị lớn về lịch sử hành chánh và cư dân của vùng Trung và Nam bộ vào cuối thế kỷ 18.

Đặc biệt, trong tập bản đồ này quần đảo Hoàng Sa mà lúc đó gọi bằng một tên Nôm là Bãi Cát Vàng ( 葛鐄) đã được vẽ tượng trưng bằng những quả núi hình bầu dục, nằm giữa Cù Lao Chàm (xã Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng ngày nay) và Cù Lao Ré (Đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi ngày nay), phía ngoài huyện Bình Sơn.

Điều này cho thấy chính quyền chúa Nguyễn đã làm chủ và khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ rất sớm.

Như vậy, Giáp Ngọ niên bình Nam đồ là tác phẩm thứ hai xuất hiện địa danh “Bãi Cát Vàng”, sau Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, (tập bản đồ chỉ dẫn đường đi ở trời Nam) do Đỗ Bá tự Công Đạo vẽ vào đời Chính Hòa (1680-1705) có ghi Bãi Cát Vàng bằng chữ Nôm, nằm ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi.

Có lẽ sau đó không lâu Lê Quý Đôn cũng đã dựa vào bản đồ này và một số tư liệu khác để nói rất chi tiết về việc họ Nguyễn quản lý và khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong tác phẩm nổi tiếng: Phủ biên tạp lục.

Cùng với Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư và Phủ biên tạp lục, Giáp Ngọ niên bình Nam đồ đã góp phần hết sức quan trọng trong việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đoan quận công Bùi Thế Đạt

Tác giả của tập Giáp Ngọ niên bình Nam đồ là Đoan quận công Bùi Thế Đạt. Lúc vẽ ông là đương kim Trấn thủ trấn Nghệ An, sau đó là Phó tướng trong chiến dịch Nam chinh.

Điều này được khẳng định bởi trên các tấm bản đồ sau 5 chữ Giáp Ngọ bình Nam đồ đều có ghi: “Đốc suất Đoan Quận công họa tiến”, nghĩa là: “Quan Đốc suất Đoan Quận công vẽ và dâng lên”.

Bùi Thế Đạt sinh năm 1704 tại làng Tiên Lý, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, trấn Nghệ An (nay là xã Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) trong một gia đình theo võ nghiệp.

Ông khởi đầu binh nghiệp với chức vụ Cai đội dưới thời chúa Trịnh Doanh. Từng tham gia đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa của Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương, Lê Duy Mật… lập được nhiều chiến công.

Ông được chúa Trịnh phân công theo dõi tình hình Đàng Trong. Năm 1774 ông được cử làm phó tướng trong đội quân Nam chinh đi đánh dẹp chúa Nguyễn để chấm dứt nạn Nam - Bắc phân tranh.

Khi Hoàng Ngũ Phúc và Huỳnh Đình Thể đem quân vào Quảng Nam (2/1775), Bùi Thế Đạt được cử làm Trấn thủ Phú Xuân trông coi mọi việc.

Năm 1776 Hoàng Ngũ Phúc cùng Nguyễn Nghiễm bị bệnh phải rút về Bắc, ông kiêm quản luôn chức Trấn thủ Thuận Hóa.

Thời điểm này ông xây dựng xưởng đúc tiền bên bờ sông Hương. Địa danh Tràng Tiền ra đời từ đây và tồn tại cho đến ngày nay với tên chiếc cầu nổi tiếng bắt qua sông Hương.

Cuối năm 1776 Phạm Ngô Cầu vào Thuận Hóa, ông được triệu về kinh giữ chức Thự phủ sự.

Năm 1778, giặc cướp nổi lên quấy phá vùng Sơn Nam, ông dù tuổi đã cao cũng được điều đi dẹp. Dẹp xong giặc ông quay trở lại làm Đốc trấn Nghệ An, chưa bao lâu thì qua đời, thọ 75 tuổi.

Chúa Trịnh Sâm thương tiếc thăng ông là Đại Tư đồ, phong làm phúc thần. Mộ ông hiện còn ở xã Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Bùi Thế Đạt là một trong ba người (cùng Hoàng Ngũ Phúc và Nguyễn Phan) được ghi tên vào cờ Thái thường trong phủ Chúa, một đặc ân hiếm có thời Lê Trịnh.

Trong bộ bách khoa toàn thư Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú đã xếp ông vào hàng hiền tài, danh tướng, danh Nho của Hoan Châu:

“Thế Đạt là con nhà tướng, có mưu lược, hành quân chuyên thận trọng, yêu sĩ tốt, nhiều phen lập đại công. Triều đại bấy giờ coi là bậc tế phụ để nương tựa. Dòng dõi nhà huân thần có địa vị danh vọng cao, ông là bậc danh tướng của châu Hoan thời gần đây”.

LÊ THÍ

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/dac-khu-hoang-sa-tren-ban-do-co-ve-vao-nam-ngo-3323553.html