Đại biểu Quốc hội góp ý dự thảo Luật Dầu khí sửa đổi
Đại biểu Quốc hội đề xuất nhiều nội dung hoàn thiện Luật Dầu khí (sửa đổi), góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Hiện thực hóa Nghị quyết số 20-NQ/TW
Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đang được Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Đóng góp ý kiến để hoàn thiện dự thảo luật, đại biểu Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) thành phố Hà Nội đánh giá cao nhiều nội dung mới của dự thảo luật; đặc biệt là việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và lần đầu tiên đưa vào quy định khung đối với hoạt động dịch vụ thu giữ và lưu trữ các-bon (CCS), dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao và phát triển năng lượng ngoài khơi.
Tuy nhiên, theo đại biểu, dự thảo vẫn cần tiếp tục rà soát, bổ sung để thể chế hóa đầy đủ hơn các chủ trương của Đảng, nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/7/2026).

Đại biểu Tạ Đình Thi đề xuất hoàn thiện Luật Dầu khí (sửa đổi) góp phần hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết số 20-NQ/TW.
Nghị quyết số 20-NQ/TW đã xác định rõ quan điểm: “Khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển theo hướng xanh, thông minh, phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường biển, đại dương; kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần… …Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, biến đổi đại dương; nâng cao năng lực chống chịu, năng lực phòng chống thiên tai, giảm thiểu rủi ro; bảo đảm duy trì lâu dài các giá trị và lợi ích chiến lược từ biển cho các thế hệ hôm nay và mai sau”.
Để hiện thực hóa được mục tiêu xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đại biểu Tạ Đình Thi cho rằng, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) cần làm rõ hơn quan điểm phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường biển, bảo tồn hệ sinh thái biển, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu và không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Đề xuất các nội dung cụ thể, đại biểu cho biết:
Trước hết, đối với hoạt động thu giữ, lưu trữ các-bon (CCS), đại biểu đánh giá việc dành riêng Chương VIII cho lĩnh vực này là bước tiến quan trọng, song các quy định hiện còn quá khung, chưa đủ tạo động lực và hành lang pháp lý rõ ràng cho các dự án thương mại. Đại biểu đề nghị bổ sung quy định cụ thể hơn về quyền sở hữu đối với lượng CO2 sau khi bơm ép lưu trữ và trách nhiệm pháp lý dài hạn trong giám sát, bảo đảm an toàn, khắc phục rủi ro; cũng như thời điểm và cơ chế bàn giao trách nhiệm quản lý từ nhà thầu sang Nhà nước sau khi kết thúc dự án.
Bên cạnh đó, đại biểu Tạ Đình Thi đề nghị hoàn thiện cơ chế ưu đãi và bảo đảm tài chính cho CCS, bao gồm ưu đãi thuế, tiền thuê khu vực biển và cơ chế chia sẻ rủi ro với Nhà nước nhằm khuyến khích các nhà đầu tư. Đại biểu cũng đề xuất nghiên cứu cơ chế cho phép nhập khẩu CO2 để lưu trữ và cho rằng Việt Nam có lợi thế về diện tích biển để phát triển dịch vụ CCS cho khu vực.
Về môi trường, đại biểu kiến nghị bổ sung yêu cầu các dự án dầu khí, đặc biệt là dự án phát triển mới phải đáp ứng tiêu chuẩn môi trường khắt khe nhất, thực hiện quan trắc môi trường tự động, có kế hoạch quản lý vòng đời công trình, ký quỹ tháo dỡ và phục hồi môi trường ngay từ giai đoạn lập kế hoạch phát triển mỏ. Theo đại biểu, ngành dầu khí có nhiều đặc thù nên cần được nghiên cứu quy định riêng trong luật.
Thứ hai, về phát triển và chia sẻ cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đại biểu Tạ Đình Thi cho biết ngành dầu khí đang sở hữu lượng dữ liệu rất lớn về địa chất, địa vật lý và môi trường đáy biển. Vì vậy, dự thảo cần bổ sung quy định bắt buộc và khuyến khích chia sẻ dữ liệu, mẫu vật thu được từ điều tra cơ bản và hoạt động dầu khí với cơ sở dữ liệu quốc gia về biển nhằm tránh đầu tư trùng lặp, tiết kiệm ngân sách, nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợp không gian biển và phục vụ quy hoạch, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh quốc gia.
Thứ ba, về tận dụng cơ sở hạ tầng dầu khí cho mục đích an ninh và điều tra cơ bản, đại biểu cho rằng hệ thống giàn khoan, đường ống và các mỏ đã cạn kiệt ngoài khơi có thể trở thành trạm quan trắc, cơ sở lưu trữ CO2, phục vụ nuôi biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi hoặc trung tâm hỗ trợ hậu cần cho các hoạt động trên biển. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế dùng chung hạ tầng dầu khí hiện hữu cho nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, bảo vệ môi trường và quốc phòng, an ninh.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường kỳ vọng sau khi được Quốc hội thông qua, Luật Dầu khí (sửa đổi) sẽ trở thành công cụ pháp lý quan trọng để khai thác hiệu quả tiềm năng biển, bảo đảm chủ quyền, bảo vệ môi trường biển và góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Làm rõ cơ chế phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí
Tương tự, TS. Nguyễn Thị Thanh Bình, ĐBQH Đoàn Hưng Yên cũng đề xuất nhiều nội dung để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho phát triển kinh tế năng lượng ngoài khơi của Việt Nam.
Thứ nhất, về cơ chế phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí, đại biểu thống nhất với việc dự thảo bổ sung khái niệm "năng lượng ngoài khơi" tại Điều 3, đồng thời bổ sung khoản 7 Điều 5 quy định Nhà nước khuyến khích phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí, khuyến khích chia sẻ, tận dụng cơ sở hạ tầng, thông tin và dữ liệu của ngành dầu khí. Bên cạnh đó, Điều 53 đã bổ sung quy định cho phép triển khai công trình năng lượng ngoài khơi trong phạm vi diện tích phát triển mỏ, tận dụng công trình dầu khí hiện hữu hoặc kết hợp đầu tư trong quá trình xây dựng công trình dầu khí mới.

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình, ĐBQH Đoàn Hưng Yên góp ý đề xuất nhiều nội dung để hoàn thiện Luật Dầu khí (sửa đổi).
Tuy nhiên, dự thảo mới chủ yếu xác lập chủ trương khuyến khích, nhưng chưa thiết lập đầy đủ cơ chế điều phối để thực hiện chủ trương đó trong thực tiễn. Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện khoản 7 Điều 5 và Điều 53 và tiếp tục quy định chi tiết trong Nghị định của Chính phủ theo hướng: bổ sung nguyên tắc phối hợp trong quản lý, sử dụng không gian biển giữa hoạt động dầu khí và các hoạt động phát triển năng lượng ngoài khơi...
Ngoài ra, liên quan đến cơ chế khai thác, sử dụng chung hạ tầng và dữ liệu của ngành dầu khí, đại biểu kiến nghị, làm rõ nguyên tắc và cơ chế chia sẻ, khai thác, sử dụng dữ liệu dầu khí; đồng thời quy định trách nhiệm cập nhật, quản lý và bảo đảm tính chính xác, an toàn của dữ liệu.
Đồng thời, quy định cụ thể điều kiện, phạm vi, phương thức và cơ chế tài chính đối với việc sử dụng chung hạ tầng dầu khí; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ đầu tư công trình và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác.
Về bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tính khả thi của các chính sách mới, đại biểu đề xuất rà soát, bảo đảm tính thống nhất giữa Luật Dầu khí với các luật có liên quan, đặc biệt là pháp luật về điện lực, đầu tư, tài nguyên, môi trường và biển, nhằm hạn chế chồng chéo trong quá trình triển khai các dự án ngoài khơi.
Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình tin tưởng, giá trị lớn nhất của dự thảo luật không chỉ là sửa đổi một đạo luật chuyên ngành về dầu khí, mà còn là từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý cho phát triển hệ sinh thái năng lượng ngoài khơi của Việt Nam trong giai đoạn chuyển dịch năng lượng và phát triển kinh tế biển.
Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định tiến bộ của Luật Dầu khí năm 2022 (hiện hành) và cụ thể hóa 5 nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 3/4/2026, bao gồm: đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân quyền, giao quyền; hoàn thiện quy định về hợp đồng và hoạt động dầu khí; chính sách ưu đãi đầu tư; phát triển chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; quy định khung cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ các-bon.












