Đặng Đình Tướng – Bậc quốc lão văn võ song toàn giữ triều Lê – Trịnh
Trong lịch sử Việt Nam thời Lê Trung Hưng, có những vị đại thần để lại tên tuổi bằng chiến công nơi trận mạc; có người nổi tiếng nhờ văn chương, khoa bảng; lại có người được hậu thế kính trọng bởi sự thanh liêm, chính trực giữa chốn quan trường. Đặng Đình Tướng hội tụ khá đầy đủ những phẩm chất ấy. Ông bước ra từ cửa Khổng sân Trình, thành danh bằng khoa cử, từng đảm trách việc chính trị, ngoại giao, quân sự; giữ nhiều chức vụ trọng yếu, được phong Thái phó, Quốc lão, Đại tư mã, Chưởng phủ sự, Đại tư đồ và tước Ứng Quận công. Nhưng điều còn lại sau gần ba thế kỷ không chỉ là một chuỗi dài chức tước. Đó là hình ảnh một bậc đại thần lấy đức độ làm gốc, lấy sự tận tụy làm phương châm, dùng tài năng để giúp nước và lấy sự tỉnh táo của người từng trải để giữ mình giữa một thời đại đầy những mối quan hệ quyền lực phức tạp.

Đặng Đình Tướng sống từ năm 1649 đến năm 1735, trải qua nhiều đời vua Lê và nhiều đời chúa Trịnh. Từ một cậu học trò đất Lương Xá, ông trở thành Giải nguyên khi vừa tròn hai mươi tuổi, rồi đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất năm 1670. Gần sáu thập niên sau đó, ông có mặt trên nhiều lĩnh vực của đời sống quốc gia: từ văn trị đến võ công, từ việc giữ yên các trấn đến bang giao với phương Bắc, từ tham dự triều chính đến dạy bảo người kế nghiệp phủ chúa. Cuối đời, khi tuổi đã ngoài tám mươi, triều đình vẫn mời ông trở lại bàn việc lớn. Người đương thời gọi ông là “Tiên Quốc lão” – một cách xưng tụng không chỉ dành cho tuổi tác, mà còn biểu thị sự kính trọng đối với một bậc nguyên lão có công lao, uy tín và đức vọng.
1- Từ đất Lương Xá, nối tiếp gia phong của một dòng họ lớn…
Đặng Đình Tướng nguyên tên là Đặng Thụy, tự Đình Tướng, về sau lấy tên tự làm tên; hiệu Trúc Trai, Trúc Ông, có tài liệu còn chép hiệu Chuyết Phu. Ông sinh năm 1649 tại xã Lương Xá, huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam; nay thuộc vùng Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Đó là miền đất nằm không xa kinh thành Thăng Long, vừa mang vẻ bình dị của một làng quê Bắc Bộ, vừa thấm đẫm truyền thống khoa bảng, võ nghiệp và tinh thần nhập thế của tầng lớp sĩ phu.
Lương Xá không chỉ là nơi Đặng Đình Tướng cất tiếng khóc chào đời. Đó còn là chiếc nôi của một dòng họ đã nhiều đời đem tài năng phụng sự đất nước. Theo hệ phả của dòng họ Đặng ở Lương Xá, ông là cháu năm đời của Thái úy, Nghĩa Quốc công Đặng Huấn – một công thần có nhiều đóng góp trong sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Ông nội là Đặng Thế Tài, từng trấn thủ Sơn Tây. Cha ông là Yên Quận công Đặng Tiến Thự, một trọng thần thời Lê – Trịnh, từng trấn thủ Nghệ An và được ban tên Trịnh Liễu. Những thông tin cơ bản này được ghi nhận khá thống nhất trong các tài liệu giới thiệu về Đặng Đình Tướng và dòng họ Lương Xá.
Một cậu bé sinh ra trong gia đình như thế tất nhiên được hưởng điều kiện học hành tốt hơn nhiều người cùng thời. Nhưng bóng rợp của tổ tiên cũng đồng thời đặt lên vai người con một sức nặng. Danh tiếng của tiền nhân có thể mở cửa cho con cháu bước vào đời, nhưng cũng khiến mỗi bước chân của họ đều bị soi xét. Nếu chỉ dựa vào thế lực gia đình mà tìm đường tiến thân, Đặng Đình Tướng khó có thể trở thành một trong những nhân vật kỳ cựu nhất của triều đình. Ông hiểu rằng muốn giữ được gia phong, trước hết phải có thực học; muốn làm rạng rỡ dòng họ, phải tự mình lập nên công nghiệp.
Tuổi thơ của ông có lẽ đã trôi qua giữa tiếng đọc sách trong ngôi nhà nhiều đời trọng chữ nghĩa, giữa những câu chuyện về tiền nhân từng xông pha trận mạc, trị nhậm các miền và gánh vác việc nước. Trong những đêm khuya, khi ngọn đèn dầu chỉ còn một quầng sáng nhỏ trên trang sách, cậu bé Đặng Thụy có thể đã nhiều lần nghe người cha nhắc nhở:
– Con sinh ra trong nhà có danh vọng, nhưng danh vọng ấy là của tổ tiên. Muốn người đời trọng mình, con phải tự học, tự rèn và tự chịu trách nhiệm về việc mình làm.
– Thưa cha, học để đỗ đạt có phải là điều quan trọng nhất không?
– Đỗ đạt mới chỉ mở được cánh cửa. Bước qua cánh cửa ấy mà giữ được lòng ngay thẳng mới là việc khó của cả một đời người.
Đó là lời đối thoại được hình dung từ nếp giáo dục của gia đình Nho học, nhưng cũng phù hợp với con đường mà Đặng Đình Tướng đã lựa chọn. Ông không lớn lên như một công tử chỉ biết hưởng vinh hoa. Sử liệu và những bài viết dựa trên gia phả đều nhấn mạnh rằng ông chăm chỉ học tập, đọc kinh sử, rèn luyện phẩm chất và sớm nổi tiếng trong vùng.
Phía sau ông là tấm gương của người cha Đặng Tiến Thự. Trong ký ức dòng họ, vị Yên Quận công ấy được nhắc đến như một người cầm quân khoan hòa nhưng nghiêm minh, quan tâm đến tướng sĩ, giảm nhẹ thuế khóa và phu dịch khi cai quản địa phương. Những điều người con chứng kiến từ cha hẳn đã giúp ông hiểu sớm rằng quyền lực không phải là đặc ân để hưởng thụ. Nó là trách nhiệm phải gánh vác; càng ở ngôi cao càng phải biết nghĩ tới dân chúng và thuộc cấp.
Gia phả họ Đặng ở Lương Xá cũng là một vấn đề cần được nhìn nhận thận trọng. Những bản phả được soạn ở các thời điểm khác nhau có chỗ không hoàn toàn thống nhất về nguồn gốc xa xưa của dòng họ. Tuy vậy, một điều đáng chú ý là chính Đặng Đình Tướng đã tham gia công việc tục biên tộc phả. Theo tư liệu hiện còn được giới thiệu, “Đặng tộc Đại tông phả” do Đặng Tiến Thự khởi soạn, sau đó được Đặng Đình Tướng và những người trong họ tiếp tục bổ sung; các bản phả đời sau cũng nhắc đến việc con cháu vâng mệnh ông biên tập “Đặng gia phả ký tục biên”. Điều ấy cho thấy ông không chỉ có ý thức về công danh cá nhân mà còn đặc biệt coi trọng cội nguồn và trách nhiệm truyền lại ký ức gia tộc cho hậu thế.
Có lẽ chính ý thức “nước có sử, nhà có phả” đã khiến Đặng Đình Tướng sống rất nghiêm cẩn. Ông hiểu mỗi việc mình làm không chỉ được người đương thời nhìn thấy mà còn có thể được con cháu ghi lại. Công danh rồi sẽ lùi vào quá khứ; chỉ có danh dự và gia phong là còn được truyền qua nhiều đời.
2- Hai mươi tuổi đỗ Giải nguyên, hai mươi mốt tuổi ghi tên bảng vàng…
Năm 1669, Đặng Đình Tướng dự kỳ thi Hương và đỗ đầu, trở thành Giải nguyên khi mới hai mươi tuổi. Một năm sau, tại khoa thi Canh Tuất, niên hiệu Cảnh Trị thứ tám đời vua Lê Huyền Tông, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa này hiện ghi tên Đặng Đình Tướng, người xã Lương Xá, huyện Chương Đức. Theo tài liệu khảo cứu, khoa thi năm 1670 có hơn hai nghìn sĩ tử dự thi, qua nhiều vòng tuyển chọn còn 31 người đỗ đại khoa; Đặng Đình Tướng được ghi ở vị trí thứ bảy trong danh sách Tiến sĩ.
Khoa cử dưới thời Lê Trung Hưng là một con đường nghiêm ngặt. Người học trò không chỉ phải thông thạo kinh nghĩa, thơ phú và phép làm văn, mà còn phải thể hiện khả năng bàn việc trị nước. Sau những cuộc nội chiến kéo dài, triều đình rất cần một đội ngũ quan lại có học vấn để củng cố bộ máy, khôi phục kỷ cương và điều hành các địa phương. Vì thế, tên tuổi được khắc lên bia đá không chỉ là vinh dự của một cá nhân. Đó còn là lời cam kết vô hình của người đỗ đạt trước quốc gia.
Ngày bảng vàng được yết, làng Lương Xá chắc hẳn rộn ràng tiếng nói cười. Người mẹ nhìn con trong áo mũ tân khoa, vừa tự hào vừa lo lắng; người cha từng trải qua nhiều năm nơi quan trường hẳn hiểu rằng con đường phía trước không chỉ có hoa thơm và võng lọng.
Có thể hình dung Đặng Tiến Thự đã gọi con vào thư phòng sau ngày vinh quy:
– Con đã bước qua được cửa trường thi. Từ nay, mỗi lời nói và việc làm đều liên quan đến phép nước.
– Con xin ghi nhớ lời cha dạy.
– Đừng nghĩ rằng áo mũ làm cho con cao hơn người khác. Người làm quan chỉ thực sự đáng trọng khi biết cúi xuống nghe nỗi khổ của dân.
Đặng Đình Tướng bước vào quan trường bằng tài năng đã được thử thách qua khoa cử, nhưng hành trang sâu xa hơn chính là nếp nhà. Năm 1675, ông được giao làm Đốc đồng Kinh Bắc; năm 1676 làm Hiến sát sứ Sơn Tây; đến năm 1682 giữ chức Công khoa Cấp sự trung. Đây là những vị trí giúp ông có điều kiện tiếp xúc với nhiều mặt của đời sống chính trị: kiểm tra việc thi hành phép nước ở địa phương, giám sát quan lại, xem xét tấu sớ và tham gia vào hoạt động của bộ máy trung ương.
Kinh Bắc và Sơn Tây đều là những vùng trọng yếu bao quanh kinh thành. Làm quan tại đó không phải việc nhàn. Một bên là miền đất văn vật, đông dân, nhiều làng nghề và sĩ phu; một bên vừa giữ vị trí chiến lược, vừa có những vấn đề phức tạp về quản lý dân cư, thuế khóa và an ninh. Người quan trẻ phải biết đọc sổ sách nhưng cũng phải hiểu lòng dân; phải giữ đúng phép nước nhưng không thể máy móc trước những cảnh đời cụ thể.
Những năm tháng ấy đã giúp Đặng Đình Tướng bước ra khỏi thế giới của kinh sử để đối diện với đời sống thật. Trên trang sách, hai chữ “dân sinh” có thể chỉ nằm trong một bài đối sách. Ngoài công đường, nó là bữa cơm của người nông dân sau mùa nước lụt, là tiếng kêu oan của người bị cường hào chèn ép, là nỗi lo của một làng phải gánh sưu dịch quá sức. Có lẽ từ thực tế ấy, ông càng thấm thía rằng một quyết định của người cầm quyền có thể ảnh hưởng tới sinh kế của hàng nghìn người.
– Phép nước cần nghiêm, nhưng xử việc phải thấu tình – ta có thể hình dung ông căn dặn thuộc lại.
– Bẩm quan, nếu cứ theo đúng điều khoản mà làm thì chẳng phải sẽ tránh được trách nhiệm hay sao?
– Người chỉ biết giữ mình mà không nhìn thấy nỗi oan của dân thì chưa thể gọi là biết giữ phép nước.
Đối thoại văn học ấy không phải lời được sử sách ghi nguyên văn, nhưng phản ánh phẩm chất mà các nguồn tư liệu hậu thế thường nhắc đến ở Đặng Đình Tướng: cẩn trọng, ngay thẳng và dám đứng về phía lẽ phải.
Con đường làm quan của ông vì thế không chỉ là quá trình thăng chức. Đó là quá trình tích lũy kinh nghiệm, từ địa phương đến trung ương, từ việc văn đến việc võ. Mỗi chức vụ giống như một bậc thềm, đưa ông đến gần hơn với những vấn đề trọng đại của quốc gia, đồng thời thử thách bản lĩnh của một nhà nho trước quyền lực và danh lợi.
3- Khi người cầm bút khoác áo võ quan…
Năm 1683, Đặng Đình Tướng được giao một nhiệm vụ liên quan đến biên giới: cùng các đại thần lên trấn Nam Quan nhận số người thuộc họ Mạc do nhà Thanh trao trả. Đến tháng 5/1689, với chức Đốc thị, ông cùng Đốc suất Lê Thì Hải và Trấn thủ Nguyễn Công Triều đem quân tiến đánh những toán cướp phá tại vùng biên giới Tuyên Quang – Hưng Hóa. Những nhiệm vụ ấy cho thấy triều đình đã nhìn nhận ở ông không chỉ năng lực của một văn thần mà còn có sự quyết đoán, mưu lược của người biết việc binh.
Biên giới phía Bắc cuối thế kỷ XVII vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn. Dư âm của các lực lượng họ Mạc chưa hoàn toàn lắng xuống; nạn cướp bóc, tranh chấp đất đai và sự phức tạp trong quan hệ với nhà Thanh đòi hỏi người được giao phó phải vừa cứng rắn vừa tỉnh táo. Chỉ biết dùng binh mà thiếu sự mềm dẻo có thể gây thêm xung đột; nhưng nếu nhu nhược, biên cương và dân chúng sẽ bị đe dọa. Đặng Đình Tướng phải đi giữa hai yêu cầu ấy bằng bản lĩnh của người đã được rèn luyện cả trong chính trị lẫn quân sự.
Năm 1697, ông lại đảm nhận một sứ mệnh lớn hơn. Đặng Đình Tướng và Nhữ Đình Hiền được cử làm Phó sứ trong đoàn sứ bộ do Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo và Tiến sĩ Nguyễn Thế Bá làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Sứ bộ vừa thực hiện việc tuế cống, vừa trình bày vấn đề những vùng biên giới Hưng Hóa, Tuyên Quang của Đại Việt bị phía nhà Thanh xâm lấn. Đây là một nhiệm vụ ngoại giao hệ trọng, đòi hỏi người đi sứ phải có học vấn, khí tiết và khả năng ứng đối.
Đường đi sứ ngày ấy dài hàng nghìn dặm. Đoàn người phải vượt ải, băng qua núi cao, sông lớn, chịu rét mướt và những tháng ngày xa quê. Nhưng gian khổ của đường trường chưa phải điều khó nhất. Mỗi cử chỉ của sứ thần đều liên quan đến quốc thể. Trước những nghi lễ nghiêm ngặt và các cuộc tiếp xúc có thể ẩn chứa sự dò xét, người đại diện cho Đại Việt phải mềm mỏng mà không khuất phục, khiêm nhường mà không tự hạ thấp mình.
Đặng Đình Tướng đã mang theo trên hành trình ấy không chỉ quốc thư mà còn tâm hồn của một thi nhân. Trong tập “Trúc Ông phụng sứ”, ông ghi lại cảnh vật, nỗi niềm và suy tư của người xa nước. Bài thơ viết vào ngày lập xuân trên đường sứ trình có những câu nói về cảnh tuyết sương muôn dặm và tấm lòng luôn ngoảnh về trời Nam. Sau lớp ngôn từ trang nhã là nỗi nhớ quê hương da diết của một người đang gánh quốc mệnh nơi đất khách.
Có thể hình dung một buổi sớm lập xuân, tuyết còn phủ trắng mái trạm dịch. Một viên tùy hành hỏi ông:
– Mùa xuân đã đến, sao quan Phó sứ vẫn đứng nhìn mãi về phương Nam?
Ông khép vạt áo trước gió lạnh, chậm rãi đáp:
– Người đi xa mới hiểu quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Đó còn là nơi mỗi lời nói, mỗi việc làm của ta lúc này phải hướng về.
Sau chuyến đi sứ, tài năng của Đặng Đình Tướng ngày càng được triều đình tin cậy. Năm 1705, khi đang giữ chức Tả Thị lang Bộ Lại, ông được chúa Trịnh Căn chuyển sang võ ban, trao chức Đô đốc và cử làm Trấn thủ Sơn Nam, ban tước Quận công. Sử chép rằng sau khi vị trấn thủ trước qua đời, triều đình khó tìm được người thích hợp; chúa Trịnh nhận thấy Đặng Đình Tướng có mưu lược, hiểu việc quân nên giao cho ông trọng trách ấy. Việc một Tiến sĩ xuất thân từ văn ban được chuyển sang giữ chức võ quan cao cấp là bằng chứng rõ ràng về tài năng đa diện và uy tín của ông.
Sơn Nam lúc ấy là một trấn rộng lớn, dân cư đông đúc, ruộng đất phì nhiêu, giữ vị trí đặc biệt đối với kinh thành Thăng Long. Cai quản một vùng như vậy đòi hỏi năng lực toàn diện: vừa lo quân sự, trị an, đê điều, thuế khóa; vừa điều hòa quan hệ giữa chính quyền, hào mục địa phương và dân chúng. Một người chỉ giỏi chữ nghĩa khó có thể hoàn thành nhiệm vụ. Một võ quan chỉ quen mệnh lệnh cũng chưa chắc khiến dân phục. Đặng Đình Tướng lại có cả sự thận trọng của nhà nho và khả năng quyết đoán của người cầm quân.
Chiếc áo quan văn và bộ võ phục tưởng như thuộc về hai con đường khác nhau, nhưng ở ông lại gặp nhau trong một quan niệm thống nhất: đã nhận mệnh triều đình thì phải làm tròn chức phận. Người cầm bút cũng là để giữ kỷ cương; người cầm quân cũng là để bảo vệ sự yên ổn của dân chúng.
– Việc trị một trấn khác việc làm văn ở triều đình – thuộc tướng có thể đã thưa với ông như thế.
– Khác ở phương cách, nhưng không khác ở lòng người – ông đáp. – Nếu trên dưới đồng lòng, thưởng phạt phân minh, dân được yên nghiệp thì trấn thành tự khắc vững.
Nhờ kinh nghiệm và công lao, đến tháng 10/1714, ông được thăng một loạt chức tước cao: Tá lý công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Tả Đô đốc, Thự phủ sự, Thiếu phó, Ứng Quận công và được mở dinh quân Tiền Hòa. Những danh hiệu dài theo điển chế phong kiến có thể xa lạ với người đọc hôm nay, nhưng đều cho thấy Đặng Đình Tướng đã bước vào hàng ngũ đại thần có vai trò đặc biệt trong bộ máy Lê – Trịnh.
Điều đáng nói là ông không tự đóng khung mình trong thân phận quan văn hay võ tướng. Đặng Đình Tướng trở thành một mẫu hình hiếm thấy: đi lên từ khoa bảng, từng làm sứ thần, biết cầm quân, trị nhậm địa phương, rồi tham dự những quyết sách lớn ở trung ương. Tài năng ấy giúp ông đứng vững qua nhiều biến động của triều chính và được các đời chúa tiếp tục trọng dụng.
4- Bậc nguyên lão giúp định việc kế nghiệp và giữ đạo triều cương…
Đầu thế kỷ XVIII, phủ chúa đứng trước một vấn đề quan trọng: lựa chọn người kế nghiệp. Trong mọi thể chế quân chủ, sự chuyển giao quyền lực luôn là thời điểm nhạy cảm. Một quyết định sai lầm có thể gây chia rẽ trong nội bộ, kéo theo tranh chấp và khiến xã tắc chao đảo. Đặng Đình Tướng cùng Nguyễn Quý Đức được sử sách và các công trình nghiên cứu nhắc đến như những đại thần có vai trò quan trọng trong việc ủng hộ Trịnh Cương kế nghiệp.
Ông nhìn thấy ở Trịnh Cương tư chất thông minh, tinh thần hiếu học, lòng nhân hậu và khả năng giữ gìn cơ nghiệp. Đây không chỉ là sự lựa chọn dựa trên quan hệ cá nhân. Đằng sau đó là kinh nghiệm chính trị của một người đã trải qua nhiều đời vua, chúa, hiểu rằng người đứng đầu phải có đức, biết nghe lời ngay thẳng và tránh xa thói kiêu xa.
Có thể hình dung trong một cuộc bàn định kín đáo, khi mỗi lời nói đều có thể ảnh hưởng đến vận mệnh của phủ chúa, Đặng Đình Tướng đã điềm tĩnh thưa:
– Người nối nghiệp không thể chỉ dựa vào thứ bậc hay sự yêu ghét nhất thời. Cơ nghiệp muốn bền phải trao cho người có thể quy tụ lòng người.
– Khanh lấy gì để bảo đảm cho sự lựa chọn ấy?
– Thần không dám bảo đảm bằng lời. Thần chỉ xin lấy những điều mắt thấy trong nhiều năm mà xét: biết học thì mới hiểu đạo trị nước; có hiếu thì mới biết giữ nền nếp; trọng người ngay thì mới tránh được kẻ nịnh.
Trịnh Cương lên ngôi chúa năm 1709 và trở thành một trong những vị chúa có nhiều nỗ lực chỉnh đốn bộ máy, cải cách chính trị, tài chính ở Đàng Ngoài. Một nghiên cứu đăng trên Journal of Southeast Asian Studies cũng ghi nhận Đặng Đình Tướng và Nguyễn Quý Đức có vai trò quan trọng trong việc Trịnh Cương kế vị và đều có sự nghiệp chính trị lâu dài.
Tháng 9/1718, Đặng Đình Tướng được gia phong Thái phó, Quốc lão, tham dự triều chính. Sau đó, vì tuổi cao, ông xin về trí sĩ. Được phong Quốc lão không đơn giản là ban cho một người già một danh hiệu danh dự. Đó là sự thừa nhận đối với kinh nghiệm, công lao và đức vọng của một bậc đại thần kỳ cựu. Người mang danh Quốc lão có thể đã rời công việc thường nhật nhưng tiếng nói vẫn có trọng lượng trước những vấn đề hệ trọng.
Tháng 6/1720, khi ban ân cho các quan văn võ, chúa Trịnh Cương xét Đặng Đình Tướng là người có công giúp rập và giảng dạy nên đưa ông vào hàng “Ngũ lão”. Đến cuối năm 1724, ông lại được mời ra đảm trách việc quân, giữ chức Đại tư mã, Chưởng phủ sự. Chi tiết này cho thấy triều đình vẫn cần tới ông ngay cả khi ông đã bước sang tuổi xưa nay hiếm.
Một người đã nghỉ hưu mà vẫn được vời ra nắm chức vụ cao không chỉ vì thiếu người. Quan trọng hơn, đó là niềm tin. Giữa chốn quyền lực, tìm một người có tài đã khó; tìm một người vừa có tài, vừa từng trải, lại đủ liêm chính để các phía kính phục càng khó hơn.
Tuổi đã cao, tóc đã bạc, Đặng Đình Tướng hẳn không còn ham muốn vinh hoa. Nếu trở lại triều đình, ông trở lại bởi trách nhiệm.
– Quốc lão đã nhiều năm khó nhọc, nay sao không vui cảnh điền viên? – người thân có thể đã hỏi ông.
– Ta cũng muốn nghe tiếng gió qua hàng trúc, muốn được yên bên con cháu. Nhưng triều đình còn giao việc, nếu sức này vẫn làm được mà chỉ nghĩ đến nhàn thân, lòng ta sao yên?
Tên hiệu Trúc Trai, Trúc Ông của ông vì thế gợi nhiều liên tưởng. Cây trúc trong văn hóa phương Đông là biểu tượng của người quân tử: thân ngay, ruột rỗng, gặp gió thì nghiêng mà không dễ gãy. Cuộc đời Đặng Đình Tướng cũng có nét tương đồng ấy. Ông mềm dẻo để thích ứng với những nhiệm vụ rất khác nhau nhưng vẫn giữ được trục chính của đời mình là lòng tận tụy và tinh thần trách nhiệm.
Các tài liệu còn lưu truyền một câu chuyện đẹp: sau khi về quê, ông vẫn được dân chúng tin cậy tìm đến gửi đơn kêu oan, mong ông giúp chuyển tới triều đình. Dù chi tiết giai thoại cần tiếp tục đối chiếu với nguyên bản sử liệu, việc nó được truyền tụng cho thấy hình ảnh của Đặng Đình Tướng trong ký ức dân gian không phải một vị quan xa cách, mà là chỗ dựa tinh thần của những người thấp cổ bé họng. Người dân chỉ tìm đến một vị quan đã về trí sĩ khi tin rằng ông còn giữ được sự công tâm và đủ can đảm nói điều cần nói.
Giá trị của một quan chức không chỉ nằm ở quyền lực khi đang tại vị. Có người vừa rời công đường thì mọi lời tung hô cũng tan biến. Đặng Đình Tướng lại khác. Khi không còn trực tiếp cầm ấn, ông vẫn được người dân gửi gắm nỗi oan và được triều đình mời tham vấn. Đó mới là thước đo bền vững của uy tín.
5- “Thuật cổ quy huấn” – lấy việc dưỡng đức làm nền của người cầm quyền…
Nếu sự nghiệp văn võ cho thấy tài năng, thì những trước tác còn lại giúp hậu thế hiểu rõ hơn tư tưởng của Đặng Đình Tướng. Ông không chỉ là đại thần, võ tướng và sứ thần mà còn là một tác giả có đóng góp về văn chương, giáo huấn và văn bia.
Tác phẩm nổi bật nhất của ông là “Thuật cổ quy huấn lục”, gồm tám thiên, được biên soạn để khuyên răn, giáo dục người kế nghiệp phủ chúa. Tám nội dung gồm: nuôi dưỡng đức tính; thường xuyên chầu hầu, học hỏi; gần gũi người chính trực; đề cao việc học chân chính; tránh đắm chìm trong nữ sắc; lựa chọn người hầu cận; răn thói kiêu căng, xa xỉ; và phân biệt người trung với kẻ nịnh. Năm 1727, khi đã là Quốc lão Chưởng phủ sự, Đặng Đình Tướng dâng tác phẩm này, đề nghị dùng làm tài liệu dạy Thế tử.
Tám thiên sách có thể xem như sự kết tinh kinh nghiệm của một đời làm quan. Đặng Đình Tướng hiểu rằng nguy cơ lớn nhất đối với người cầm quyền không chỉ đến từ kẻ thù bên ngoài. Nó còn nảy sinh trong chính lòng người: từ sự kiêu ngạo, ham hưởng lạc, lười học hỏi, thích lời tâng bốc và xa lánh người ngay thẳng. Muốn giữ được cơ nghiệp, trước hết phải giữ được mình.
Ông đặt việc dưỡng đức lên hàng đầu. Cách sắp xếp ấy không ngẫu nhiên. Theo tư tưởng Nho gia, người cai trị muốn làm cho thiên hạ yên ổn phải bắt đầu từ tu thân. Pháp luật dù nghiêm nhưng người đứng đầu không làm gương thì kỷ cương khó bền. Kho tàng có đầy mà lòng dân ly tán thì quốc gia vẫn suy yếu. Bởi vậy, gốc của việc trị nước không nằm ở lời nói đẹp mà ở phẩm chất của người nắm quyền.
Có thể hình dung ông nói với vị Thế tử trẻ:
– Điện hạ có biết điều gì đáng sợ nhất đối với người ở ngôi cao không?
– Là quân địch mạnh ngoài biên ải chăng?
– Quân địch còn có thể nhìn thấy. Đáng sợ hơn là lòng kiêu ngạo lớn dần mà chính mình không nhận ra, là kẻ nịnh đứng bên cạnh mỗi ngày khiến lời thật không còn đến được tai mình.
– Vậy phải làm thế nào?
– Gần người ngay, chăm việc học, bớt ham muốn và luôn nhớ rằng dân có yên thì ngôi vị mới vững.
Dù là lời tái hiện văn học, cuộc đối thoại ấy diễn đạt đúng tinh thần của Thuật cổ quy huấn lục. Đó cũng là lời nhắn gửi vượt khỏi giới hạn của thời Lê – Trịnh. Trong bất cứ thời đại nào, người có quyền lực đều cần biết nghe phản biện, phân biệt trung thực với xu nịnh và tự kiềm chế trước những cám dỗ của địa vị.
Bên cạnh sách giáo huấn, Đặng Đình Tướng còn để lại “Trúc Ông phụng sứ tập”, tập hợp thơ sáng tác trên đường đi sứ nhà Thanh những năm 1697–1698; “Linh Giang doanh vệ lục”, gồm nhiều bài thơ tức cảnh, cảm hoài, tiễn tặng và giao tiếp văn chương. Một số sáng tác của ông được chép trong gia phả và các tuyển tập thơ văn đời sau. Thơ của ông có cảnh sứ trình, nỗi nhớ quê hương, sự suy ngẫm về công danh và niềm kính trọng đối với những bậc trung nghĩa.
Điều đáng chú ý là vị đại thần từng giữ chức vụ rất cao lại có những câu thơ xem công danh, lợi lộc nhẹ như sợi lông. Đó có thể là tiếng nói của một người đã đi gần hết vòng danh vọng nên thấu hiểu tính phù du của nó. Công danh cần thiết để thực hiện chí hướng, nhưng nếu xem công danh là mục đích cuối cùng, con người rất dễ trở thành tù nhân của chính quyền lực mình đang nắm giữ.
Dấu ấn học thuật của Đặng Đình Tướng còn được ghi lại trên văn bia. Hiện có những thác bản bia niên đại 1693 và 1700 ghi rõ ông là người soạn, kèm quê quán Lương Xá, học vị Tiến sĩ khoa Canh Tuất cùng các chức vụ đương thời như Thái bộc Tự khanh, Bồi tụng và Tả Thị lang. Đây là những chứng tích vật chất có giá trị, góp phần xác nhận đường quan nghiệp và hoạt động văn hóa của ông, đồng thời cho thấy uy tín của một nhà khoa bảng thường được mời soạn văn bia ghi nhận việc thiện ở các địa phương.
Văn bia, thơ đi sứ, sách dạy Thế tử và gia phả tưởng như là bốn loại văn bản rất khác nhau. Nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng lại tạo thành một chân dung thống nhất: Đặng Đình Tướng là người có ý thức sâu sắc về ký ức. Ông ghi việc thiện để làng xã nhớ; làm thơ để lưu lại tâm tình trên đường sứ; viết sách để truyền kinh nghiệm cho người kế nghiệp; tục biên gia phả để con cháu biết cội nguồn. Ông không chỉ hành động cho hiện tại mà còn luôn nghĩ đến việc những giá trị ấy sẽ được trao lại thế nào cho tương lai.
6- Tiên Quốc lão và tiếng thơm còn lại với hậu thế…
Năm tám mươi tuổi, Đặng Đình Tướng một lần nữa xin về trí sĩ và được gia phong Đại tư đồ. Đầu năm Ất Mão 1735, niên hiệu Long Đức thứ tư đời vua Lê Thuần Tông, ông qua đời, hưởng thọ 87 tuổi theo cách tính tuổi của người xưa. Sau khi mất, ông được truy phong Phúc thần.
Tám mươi bảy năm cuộc đời của Đặng Đình Tướng trải qua một chặng dài đặc biệt của lịch sử Lê Trung Hưng. Khi ông sinh ra, vua Lê Thần Tông còn ở ngôi; khi ông thi đỗ là thời Lê Huyền Tông; đường làm quan của ông tiếp tục qua các triều Lê Gia Tông, Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông và đến thời Lê Thuần Tông. Ở phủ chúa, ông cũng trải qua nhiều đời từ Trịnh Tạc, Trịnh Căn, Trịnh Cương đến Trịnh Giang. Ít có vị quan nào duy trì được uy tín lâu dài qua nhiều lần chuyển giao quyền lực như vậy.
Để đứng vững lâu năm nơi triều chính, tài năng thôi chưa đủ. Người chỉ dựa vào phe cánh có thể thăng tiến nhanh nhưng cũng dễ suy sụp khi thời thế đổi thay. Người chỉ biết giữ mình mà không dám nhận việc khó có thể được xem là hiền tài nhưng khó trở thành rường cột. Đặng Đình Tướng giữ được vị trí bởi ông có thực học, biết việc, có khả năng đảm đương cả văn lẫn võ; quan trọng hơn, ông tạo được niềm tin bằng đức độ và sự từng trải.
Sử cũ gọi gia đình ông là một nhà có vinh hiển hiếm thấy và ghi nhận người đương thời tôn ông là Tiên Quốc lão. Các con ông như Đặng Đình Giản, Đặng Đình Quỳnh cùng cháu là Đặng Đình Mật tiếp tục tham gia võ ban. Nhưng di sản lớn nhất ông để lại cho con cháu không chỉ là chức tước hay mối quan hệ với hoàng tộc. Đó là một nếp nhà: học để làm người, làm quan để giúp nước, có quyền phải biết tự răn, có danh vọng càng phải giữ lấy liêm sỉ.
Nhà thờ Tiên Quốc lão Đặng Đình Tướng hiện còn tại vùng Thụy Hương, Chương Mỹ, trên quê hương Lương Xá xưa. Trong không gian thờ tự ấy, tượng thờ, ngai thờ, văn bia và những câu chuyện lưu truyền qua các thế hệ đã nối một con người của thế kỷ XVII–XVIII với đời sống hôm nay. Đó không chỉ là nơi con cháu dòng họ tìm về dâng hương. Đó còn là một địa chỉ lưu giữ ký ức về một bậc danh thần của đất Thăng Long – Sơn Nam.
Hơn hai trăm chín mươi năm đã trôi qua kể từ ngày ông mất. Những con đường từ Lương Xá vào Thăng Long không còn như xưa; những trạm dịch trên đường sứ phương Bắc chỉ còn trong sử sách; áo mũ, nghi lễ và cơ cấu triều chính của thời Lê – Trịnh đã thuộc về quá khứ. Nhưng những câu hỏi mà Đặng Đình Tướng từng quan tâm vẫn còn nguyên ý nghĩa: Người có quyền phải tu dưỡng thế nào? Làm sao để nghe được lời ngay giữa vô số tiếng tâng bốc? Một vị quan cần lựa chọn giữa sự an toàn của bản thân và nỗi oan của dân chúng ra sao? Làm thế nào để công danh không làm mất đi phẩm cách?
Cuộc đời ông đã trả lời những câu hỏi ấy không phải bằng một lời tuyên ngôn duy nhất, mà bằng cả hành trình gần sáu mươi năm phụng sự. Từ chàng Giải nguyên hai mươi tuổi đến vị Tiến sĩ trẻ bước vào quan trường; từ Đốc đồng, Hiến sát sứ, Cấp sự trung đến sứ thần nơi đất Bắc; từ Tả Thị lang chuyển sang Đô đốc, trấn giữ Sơn Nam; từ Thái phó, Quốc lão đến Đại tư mã, Chưởng phủ sự, Đại tư đồ – ở mỗi cương vị, ông đều để lại dấu ấn của một người không ngừng học hỏi và gánh vác.
Nếu Đặng Dung được hậu thế nhớ tới bởi khí phách bi tráng trong bài “Cảm hoài”; Đặng Huấn nổi danh với công lao trung hưng nhà Lê; Đặng Tiến Thự để lại tiếng thơm của một vị trọng thần khoan hòa, thanh liêm, thì Đặng Đình Tướng là sự tiếp nối xứng đáng của dòng mạch ấy. Ở ông có chữ nghĩa của nhà khoa bảng, bản lĩnh của võ quan, sự mềm dẻo của nhà ngoại giao, chiều sâu của thi nhân và đức độ của một bậc nguyên lão.
Có thể vào những năm cuối đời, khi đã rời xa tiếng trống chầu và những cuộc bàn luận nơi phủ chúa, Trúc Ông thường ngồi lặng dưới bóng tre quê nhà. Trước mắt ông là đồng ruộng Lương Xá, sau lưng là một đời quan nghiệp dài với biết bao được mất. Con cháu quây quần, có người hỏi:
– Thưa cụ, trong bao nhiêu chức tước triều đình từng ban, điều gì khiến cụ quý trọng nhất?
Có lẽ vị Quốc lão sẽ nhìn thật lâu về phía làng quê rồi chậm rãi đáp:
– Chức tước là việc của một thời. Nếu sau khi ta mất, con cháu còn biết giữ nếp nhà, dân chúng còn nhớ rằng ta từng làm một việc có ích cho họ, thế đã là đủ.
Câu trả lời ấy là sự hình dung của người viết, nhưng dường như phù hợp với toàn bộ cuộc đời Đặng Đình Tướng. Bởi cuối cùng, điều khiến ông sống lâu trong ký ức hậu thế không phải là sự dài rộng của phẩm hàm. Đó là cách ông sử dụng phẩm hàm ấy để phụng sự; không phải ngôi cao, mà là đức độ giúp ông đứng vững trên ngôi cao; không phải quyền lực từng nắm giữ, mà là niềm tin vẫn còn lại khi quyền lực đã rời khỏi tay.
Tên tuổi Đặng Đình Tướng vì thế xứng đáng có một vị trí trang trọng trong lịch sử danh nhân họ Đặng Việt Nam. Ông là minh chứng rằng truyền thống của một dòng họ không chỉ được tạo nên bởi huyết thống, mà còn bởi sự tiếp nối các giá trị qua từng thế hệ. Người trước để lại khí tiết, người sau giữ gìn gia phong; mỗi người bằng tài năng và phẩm hạnh của mình lại bồi đắp thêm một lớp phù sa cho dòng chảy chung.
Trong dòng chảy ấy, Đặng Đình Tướng hiện lên như một thân trúc già trước gió: từng trải mà không cằn cỗi, mềm dẻo mà không cong mình, thanh cao nhưng không xa lánh cuộc đời. Từ đất Lương Xá, ông đã đi qua cửa trường thi, bước vào triều chính, vượt muôn dặm sứ trình, nắm việc quân cơ rồi trở về với quê hương. Một vòng đời trọn vẹn, dài rộng và nhiều cống hiến.
Và sau tất cả, hai chữ Quốc lão mà người đời dành cho ông không chỉ nói về tuổi thọ. Đó là sự tôn vinh dành cho một bậc đại thần đã dùng tài năng giúp nước, lấy đức độ cảm hóa người, đem kinh nghiệm truyền lại cho thế hệ sau và giữ trọn phẩm cách của người quân tử giữa chốn quyền uy.
Hà Nội, 03/9/2026
Đặng Vương Hưng
