Đào tạo tôn giáo: Tôn trọng quyền tự chủ, chuẩn hóa trách nhiệm pháp lý
Khi hoạt động đào tạo tôn giáo ngày càng mở rộng, yêu cầu đặt ra là vừa bảo đảm quyền tự chủ của các tổ chức tôn giáo, vừa xây dựng khuôn khổ pháp lý rõ ràng về tổ chức, quản lý và thực hiện hoạt động đào tạo.
Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) năm 2026 do Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì soạn thảo đang được Bộ Tư pháp thẩm định. Những quy định mới đánh dấu bước chuyển quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc, tôn giáo.
Trong đó, đối với hoạt động đào tạo tôn giáo, khung pháp lý mới hướng tới mục tiêu chuẩn hóa, bảo vệ quyền tự do tôn giáo chính đáng, đồng thời gắn kết trách nhiệm phụng sự đạo pháp với nghĩa vụ phụng sự Tổ quốc.

Kỳ thi tốt nghiệp lớp Trung cấp Phật học khóa IX (niên khóa 2022 - 2026) của Trường Trung cấp Phật học Hà Nội. Ảnh: Trường Trung cấp Phật học Hà Nội
Sứ mệnh phụng sự đạo pháp bắt đầu từ trách nhiệm công dân
Cùng với sự phát triển của các tổ chức tôn giáo, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chức sắc, chức việc, nhà tu hành ngày càng được chú trọng. Nhiều tổ chức tôn giáo đã có cơ sở đào tạo và các chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với đặc thù của từng tôn giáo.
Bên cạnh việc truyền trao giáo lý, các cơ sở đào tạo còn chú trọng trang bị cho người học kiến thức về lịch sử, văn hóa và pháp luật Việt Nam. Qua đó, quá trình tu học được đặt trong mối liên hệ với đời sống xã hội và trách nhiệm của mỗi chức sắc, chức việc, nhà tu hành.
Mở rộng không gian đào tạo và giao lưu tôn giáo
Cả nước có 62 cơ sở đào tạo tôn giáo. Một số cơ sở đào tạo của tôn giáo được phép đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ.
Hoạt động đào tạo, giao lưu tôn giáo cũng ngày càng mở rộng. Hằng năm, có hàng trăm lượt chức sắc, nhà tu hành, tín đồ của các tôn giáo ở Việt Nam xuất cảnh tham dự các hoạt động tôn giáo, khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài và hàng trăm lượt cá nhân tôn giáo nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam hoạt động tôn giáo.
(Nguồn: Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”)
Tại Trường Trung cấp Phật học Hà Nội (thuộc Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP. Hà Nội), định hướng này được thể hiện khá rõ trong chương trình đào tạo tăng, ni sinh.
Từ nhiều năm nay, nhà trường đã đưa các môn học về lịch sử và pháp luật Việt Nam vào chương trình đào tạo hệ trung cấp ngay từ năm thứ nhất.
Bên cạnh đó, tăng, ni sinh còn học môn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” trong học kỳ II của năm học thứ hai. Môn học góp phần giúp người học hiểu hơn về lịch sử, văn hóa và những giá trị làm nên bản sắc dân tộc.
Kết quả học tập của lớp Trung cấp Phật học khóa IX (niên khóa 2022 - 2026) cho thấy kết quả tích cực ở những môn học này. Ở lớp tăng, điểm thi học kỳ môn Lịch sử Việt Nam có 26 điểm 8, 5 điểm 9 và 3 điểm 10, số còn lại đạt điểm 7.
Ở lớp ni sinh (lớp 1), có 5 điểm 10, phần lớn học viên còn lại đạt điểm 8 và 9. Các môn “Pháp luật Nhà nước và tôn giáo” (năm thứ nhất) và “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (năm thứ hai) cũng ghi nhận kết quả học tập tích cực.
Những kết quả này cho thấy lịch sử, văn hóa và pháp luật Việt Nam đã trở thành những nội dung thiết thực trong quá trình tu học. Qua đó tạo thêm nền tảng để người học hiểu về đất nước, xã hội và khuôn khổ pháp luật mà hoạt động tôn giáo được thực hiện.
Trong bối cảnh mới, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về đào tạo tôn giáo cũng đặt ra yêu cầu rõ hơn đối với nội dung và điều kiện công nhận tốt nghiệp, theo hướng chuẩn hóa và phù hợp với thực tiễn.
Theo dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 (gọi tắt là dự thảo Nghị định), học viên tại các cơ sở đào tạo tôn giáo được công nhận tốt nghiệp khi đáp ứng điều kiện tốt nghiệp do cơ sở đào tạo quy định và hoàn thành môn học về lịch sử Việt Nam, pháp luật Việt Nam theo quy định của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Bảo vệ luận văn thạc sĩ thần học tại Phân khoa Thần học - Học viện Công giáo Việt Nam ngày 24/4/2026. Ảnh: Học viện Công giáo Việt Nam
Đặt kiến thức tôn giáo trong mối liên hệ với lịch sử, pháp luật và văn hóa dân tộc, hoạt động đào tạo vì thế không chỉ hướng tới việc truyền trao giáo lý. Đây là một quá trình chuẩn bị cho chức sắc, chức việc, người tu hành hành trang cần thiết để sống và thực hành đạo trong khuôn khổ pháp luật, gắn bó với cộng đồng và đất nước.
Chuẩn hóa đào tạo tôn giáo bắt đầu từ “giấy khai sinh”
Khung pháp lý mới thể hiện rõ Nhà nước tuyệt đối tôn trọng quyền của các tổ chức tôn giáo trong công tác đào tạo. Điều 48 của dự thảo Nghị định quy định cấp học, trình độ đào tạo và việc quản lý, cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp về tôn giáo do cơ sở đào tạo tôn giáo quy định.
Điểm đáng chú ý là việc chuẩn hóa không đồng nghĩa với đồng nhất hóa. Dự thảo vẫn dành không gian để các cơ sở đào tạo lựa chọn hình thức, phương thức đào tạo phù hợp với giáo lý, giáo luật và lễ nghi của từng tôn giáo.
Cơ sở đào tạo tôn giáo không thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
Góp ý vào dự thảo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, hoàn thiện theo hướng phân định rõ hoạt động đào tạo tôn giáo với hoạt động giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Giải trình vấn đề này, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho biết, đối với các cơ sở đào tạo tôn giáo, khoản 4 Điều 34 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) năm 2026 đã quy định “Cơ sở đào tạo tôn giáo không thuộc hệ thống giáo dục quốc dân”. Quy định này đã đảm bảo không làm phát sinh cách hiểu về việc công nhận trình độ đào tạo, văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
(Nguồn: Bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình góp ý vào hồ sơ dự thảo của Bộ Dân tộc và Tôn giáo)
Tại hội thảo tổ chức ngày 29/7/2026, mục sư Nguyễn Hữu Mạc - Hội trưởng Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) cho rằng, về công tác đào tạo tôn giáo, dự thảo Nghị định đã đưa ra 3 phương thức: Trực tuyến, từ xa, kết hợp cả trực tuyến và từ xa. Theo ông, trong bối cảnh chuyển đổi số, đây là quy định hợp lý.
Tạo điều kiện cho công tác đào tạo tôn giáo, nhưng ông Phan Vũ - Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội, cho rằng phải có những quy định để tăng cường quản lý, tránh những hình thức bồi dưỡng không đúng quy định.
Khung pháp lý mới đã chuẩn hóa công tác đào tạo tôn giáo, trước hết bắt đầu từ “giấy khai sinh" của mỗi học viện, chủng viện hay cơ sở đào tạo tôn giáo. Điều 44 của dự thảo Nghị định cụ thể hóa các điều kiện để hình thành và vận hành một cơ sở đào tạo tôn giáo.
Ở đó, tổ chức tôn giáo khi đề nghị thành lập cơ sở đào tạo không chỉ chứng minh năng lực về nhân sự lãnh đạo, địa điểm hợp pháp và cơ sở vật chất bảo đảm, mà bắt buộc phải xây dựng đồng bộ hai trụ cột quản trị cốt lõi là quy chế tổ chức, hoạt động và quy chế tuyển sinh.
Dự thảo Nghị định đang hình thành một cơ chế quản lý đầy đủ hơn đối với “vòng đời” vận hành của cơ sở đào tạo tôn giáo. Đáng chú ý, chế độ báo cáo được cụ thể hóa theo từng khóa học.
Theo Điều 47, chậm nhất 20 ngày sau khi kết thúc khóa đào tạo, kết quả học tập của từng khóa phải được báo cáo bằng văn bản về Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Qua đó, cơ quan quản lý có thêm cơ sở để theo dõi quy mô, kết quả đào tạo và việc thực hiện các quy định của cơ sở đào tạo.
Cởi mở để hội nhập, minh bạch để quản lý
Cùng với chuẩn hóa trong nước, khung pháp lý mới cũng mở rộng không gian giao lưu và đào tạo tôn giáo quốc tế theo hướng rõ thủ tục, rõ thẩm quyền và rõ trách nhiệm.
Trong dự thảo Nghị định, cánh cửa hội nhập quốc tế lĩnh vực đào tạo tôn giáo không chỉ được mở rộng, mà còn được chuẩn hóa theo tinh thần chủ động, minh bạch, bình đẳng và tôn trọng pháp luật sở tại. Sự cởi mở và chủ động ấy trước hết thể hiện ở hành lang pháp lý thông thoáng dành cho những người bạn quốc tế muốn tìm hiểu, tu học tại các cơ sở tôn giáo của Việt Nam.

Cùng với sự phát triển của các tổ chức tôn giáo, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chức sắc, chức việc, nhà tu hành ngày càng được chú trọng. Ảnh: Trường Trung cấp Phật học Hà Nội
Điều 60 của dự thảo Nghị định xác lập một quy trình “một cửa” công khai, nhanh gọn. Theo đó, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, tự nguyện đăng ký học tại các cơ sở đào tạo tôn giáo chỉ cần thực hiện thủ tục qua UBND cấp tỉnh với thời hạn giải quyết rõ ràng trong vòng 25 ngày.
Ở chiều ngược lại, quy định về việc cử chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ đi đào tạo tôn giáo ở nước ngoài cũng được cụ thể hóa. Quy định tại Điều 62 mở ra lộ trình thuận lợi cho việc cử nhân sự tham gia các chương trình đào tạo tôn giáo ở nước ngoài, với thẩm quyền giải quyết tập trung tại Bộ Dân tộc và Tôn giáo trong thời hạn 30 ngày.
Song hành với hoạt động đào tạo là cơ chế minh bạch hóa các nguồn lực quốc tế. Lần đầu tiên, việc tiếp nhận và quản lý các khoản tài trợ của tổ chức, cá nhân nước ngoài được quy định danh mục cụ thể tại Điều 68, trong đó ưu tiên hỗ trợ hoạt động đào tạo, bồi dưỡng về tôn giáo cho người chuyên hoạt động tôn giáo.

So với trước đây, khung pháp lý về hoạt động đào tạo tôn giáo được quy định cụ thể hơn, tạo nền tảng pháp lý để các tổ chức tôn giáo phát triển ổn định, gắn bó với đời sống xã hội.
Một điểm đáng chú ý khác là trách nhiệm quản lý được gắn rõ hơn với địa bàn. Theo dự thảo, thẩm quyền thụ lý giải thể tự nguyện hoặc quyết định giải thể bắt buộc cơ sở đào tạo được giao cho UBND cấp tỉnh nơi đặt trụ sở.
Cùng với việc cụ thể hóa hồ sơ, chế độ báo cáo và các biện pháp xử lý, quy định này cho thấy quản lý hoạt động đào tạo tôn giáo đang được đặt trong một cơ chế rõ hơn về thẩm quyền và trách nhiệm.
Hoàn thiện khung pháp lý về đào tạo tôn giáo vì thế không phải là thu hẹp quyền tự chủ, mà là làm rõ hơn không gian để quyền ấy được thực hiện. Khi quyền tự chủ đi cùng trách nhiệm, đào tạo tôn giáo có thêm nền tảng pháp lý để phát triển ổn định, minh bạch và gắn bó với đời sống xã hội.

