Để tài sản trí tuệ trở thành nguồn lực phát triển
Điểm nghẽn về xử lý đơn sở hữu công nghiệp đang được khơi thông, nhưng xác lập quyền mới chỉ là bước đầu. Yêu cầu lớn hơn là đưa tài sản trí tuệ vào khai thác, thương mại hóa, tạo giá trị cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nền kinh tế.

Cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý "Ngọc Linh" cho sản phẩm sâm củ. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận 89.816 đơn sở hữu công nghiệp nhưng xử lý tới 115.819 đơn, đồng thời cấp 39.981 văn bằng bảo hộ. Lần đầu tiên sau một thời gian dài, câu chuyện về sở hữu trí tuệ có thể chuyển trọng tâm từ giải quyết hồ sơ tồn đọng sang một vấn đề lớn hơn: Tài sản trí tuệ sẽ được khai thác như thế nào sau khi xác lập quyền?
Khoảng cách giữa hai con số tiếp nhận và xử lý đơn cho thấy nỗ lực khơi thông một điểm nghẽn kéo dài trong hệ thống xác lập quyền sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, kết quả này cũng mở ra yêu cầu mới đối với hoạt động sở hữu trí tuệ. Bởi một tài sản được cấp văn bằng bảo hộ chưa đồng nghĩa với việc giá trị của tài sản đó đã được đưa vào đời sống.
Khơi thông từ thủ tục đến phương thức xử lý
Áp lực đối với hệ thống sở hữu trí tuệ không giảm khi số đơn tiếp nhận trong 6 tháng đầu năm tăng 20,7% so cùng kỳ. Nhiều nhóm hồ sơ cùng tăng, từ sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu đến các yêu cầu sau cấp văn bằng, khiếu nại, chấm dứt hoặc hủy bỏ hiệu lực văn bằng.
Trong bối cảnh đó, việc xử lý số đơn cao hơn lượng hồ sơ tiếp nhận không chỉ giúp giải quyết phần tồn đọng mà còn tạo điều kiện hạn chế phát sinh hồ sơ quá hạn mới.
Song, khơi thông điểm nghẽn không thể chỉ dựa vào việc tăng số lượng đơn được giải quyết. Quy trình nghiệp vụ, thời gian xử lý, chi phí tuân thủ và phương thức phục vụ cũng phải thay đổi.
Số thủ tục hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã giảm từ 57 xuống 31. Tổng thời gian giải quyết các thủ tục giảm từ 6.096 ngày xuống 2.719 ngày, tương đương khoảng 55%; chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp giảm từ 525,6 tỷ đồng xuống 247,7 tỷ đồng.
Khoảng 80% hồ sơ hiện được tiếp nhận và xử lý trực tuyến. Việc mở rộng xử lý hồ sơ điện tử, hoàn thiện dữ liệu chuyên ngành và ứng dụng công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo, đang làm thay đổi phương thức vận hành của hệ thống sở hữu trí tuệ.
Trí tuệ nhân tạo được định hướng ứng dụng trong tra cứu, thẩm định, tư vấn và cung cấp thông tin sở hữu công nghiệp. Đây là những khâu có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng và tiến độ xử lý đơn.
Cải cách thủ tục và chuyển đổi số, vì vậy, không đơn thuần là đưa hồ sơ giấy lên môi trường điện tử. Mục tiêu là xây dựng một hệ thống có khả năng xử lý khối lượng công việc ngày càng lớn mà không để tái diễn tình trạng tồn đọng.
Giá trị không dừng ở văn bằng bảo hộ
Sau khi điểm nghẽn về xác lập quyền được tháo gỡ, trọng tâm của hoạt động sở hữu trí tuệ phải được mở rộng từ bảo hộ sang khai thác giá trị.
Đó là sự chuyển dịch cần thiết. Xác lập quyền giúp ghi nhận và bảo vệ thành quả sáng tạo; quản trị và thương mại hóa mới giúp tài sản trí tuệ tham gia vào hoạt động nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo.
Định hướng này được thể hiện trên ba trụ cột: thúc đẩy khai thác, thương mại hóa tài sản trí tuệ; tăng cường bảo vệ quyền, nhất là trên môi trường số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn bộ hệ thống sở hữu trí tuệ.
Nền tảng thể chế cho sự chuyển dịch cũng đang tiếp tục được hoàn thiện. Trong năm 2026, các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ được xây dựng; biểu mẫu nghiệp vụ và quy trình xử lý đơn trên hệ thống quản trị được rà soát, điều chỉnh.
Ngày 17/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 51-KL/TW về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới. Kết luận tạo nền tảng để tiếp tục hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả bảo hộ, thực thi và khai thác tài sản trí tuệ.
Nếu xử lý đơn tồn đọng là bước tháo gỡ điểm nghẽn của hệ thống, thì thương mại hóa là thước đo khả năng đưa sở hữu trí tuệ vào thực tiễn. Hai nhiệm vụ này không tách rời nhau: xác lập quyền phải nhanh, minh bạch, nhưng tài sản sau khi được bảo hộ cũng cần được quản trị và khai thác hiệu quả.
Sở hữu trí tuệ vì thế không chỉ là câu chuyện của hồ sơ hay văn bằng. Khi được đưa vào sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo, tài sản trí tuệ mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/de-tai-san-tri-tue-tro-thanh-nguon-luc-phat-trien-post982919.html

