Đề xuất danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến về dự thảo Thông tư ban hành danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu.

C

ập nhật, bổ sung

ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu

1. Danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu được chỉnh sửa, bổ sung định kỳ ít nhất 01 lần trong 05 năm.

2. Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng kế hoạch, tổ chức đánh giá việc thực hiện danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu. Trên cơ sở đó, trình Bộ trưởng xem xét chỉnh sửa, bổ sung ngành, nghề vào danh mục theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, hằng năm tổ chức đánh giá việc thực hiện ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp mà cơ sở mình tổ chức đào tạo; báo cáo, đề xuất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Bộ Giáo dục và Đào tạo (qua Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường) bổ sung hoặc đưa ra khỏi danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu trên cơ sở các tiêu chí quy định tại Phụ lục III kèm theo Thông tư này.

Danh mục ngành nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

Trong đó, ban hành kèm theo Thông tư là Danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

Danh mục ngành nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu

Tiêu chí xác định ngành nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

Ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (NNĐHNH) trong giáo dục nghề nghiệp là ngành, nghề trong quá trình đào tạo, người học phải trực tiếp thực hành các công việc thuộc nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; đồng thời có mức độ, cường độ hoặc thời gian tiếp xúc đáng kể với các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại.

Ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là ngành, nghề đáp ứng đầy đủ cả 02 tiêu chí sau:

Tiêu chí 1: Thuộc danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Tiêu chí 2: Có tổng thời gian người học trực tiếp thực hành các công việc ở mức nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trở lên chiếm từ 50% trở lên so với tổng thời gian thực hànhcủa chương trình đào tạo hoặc có thời gian thực hành, thực hiện công việc ở mức đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm chiếm từ 30% trở lên so với tổng thời gian thực hành trong chương trình đào tạo. Trường hợp chưa đạt tỷ lệ trên nhưng quá trình thực hành, thực hiện các công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại ở mức cao, có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, an toàn của người học thì được xem xét trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro và đặc thù của ngành, nghề.

Đối với ngành, nghề đào tạo đặc thù thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoài các quy định nêu trên, được xem xét trên cơ sở tính chất, đặc điểm nhiệm vụ, điều kiện, môi trường đào tạo, yêu cầu thực hành và quy định của ngành, nghề có liên quan.

Tiêu chí xác định ngành nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu

Ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu là ngành, nghề đào tạo có nhu cầu sử dụng nhân lực hiện tại hoặc trong tương lai để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhưng khó thu hút người học; ngành, nghề có tỷ lệ tuyển sinh thực tế thấp so với chỉ tiêu tuyển sinh được xác định phù hợp với năng lực đào tạo và nhu cầu nhân lực hoặc quy mô tuyển sinh liên tục giảm, không đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong 03 năm liên tiếp.

Một ngành, nghề đào tạo được đưa vào danh mục ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu trong giáo dục nghề nghiệp phải đồng thời đáp ứng cả bốn tiêu chí (1), (2), (3), (4) và thuộc một trong những nội dung, lĩnh vực trong tiêu chí (5) hoặc (6):

Tiêu chí 1: Thuộc danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Tiêu chí 2: Ngành, nghề đào tạo thường xuyên không đạt chỉ tiêu tuyển sinh/quy mô đào tạo trong 3 năm liền tại các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp của các bộ, ngành, địa phương (tỷ lệ tuyển sinh bình quân đạt dưới 70% so với chỉ tiêu tuyển sinh).

Tiêu chí 3: Ngành, nghề đào tạo mà xã hội có nhu cầu sử dụng nhân lực hiện tại và dự báo có nhu cầu trong tương lai, được xác định trên cơ sở nhu cầu sử dụng lao động hiện tại và dự báo nhu cầu nhân lực trong tương lai của cơ quan nhà nước, cơ quan đơn vị quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp, địa phương và thị trường lao động (thể hiện qua: số lao động đang thiếu; nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp; nhu cầu của bộ, ngành, địa phương; dự báo nhu cầu nhân lực; chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, vùng, địa phương…).

Tiêu chí 4: Ngành, nghề có tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm phù hợp với ngành, nghề đào tạo ở mức cao so với tỷ lệ bình quân chung của giáo dục nghề nghiệp; đồng thời có bằng chứng cho thấy thị trường lao động tiếp tục có nhu cầu tuyển dụng nhân lực."

Tiêu chí 5: Ngành, nghề có tính chất đặc thù về công việc, điều kiện lao động, yêu cầu về năng lực hoặc năng khiếu, địa bàn làm việc hoặc lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội đặc thù làm hạn chế khả năng thu hút người học (ngành, nghề thuộc danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; điều kiện lao động hoặc môi trường làm việc đặc thù; làm việc tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; lĩnh vực kinh tế biển, nông - lâm - ngư nghiệp, khai khoáng, môi trường... có điều kiện đặc thù; nghề yêu cầu năng khiếu, năng lực hoặc điều kiện thể chất đặc biệt; nghề phục vụ các lĩnh vực đặc thù, thiết yếu, bảo tồn giá trị văn hóa, nghệ thuật hoặc các lĩnh vực xã hội cần duy trì nguồn nhân lực).

Tiêu chí 6: Ngành, nghề có vai trò cần thiết đối với phát triển ngành kinh tế chiến lược; chuyển dịch cơ cấu kinh tế; chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; phát triển vùng, địa bàn khó khăn; bảo đảm dịch vụ thiết yếu; quốc phòng, an ninh hoặc các nhiệm vụ đặc biệt khác theo quy định.

Ngoài các ngành, nghề đáp ứng các tiêu chí trên, đối với ngành, nghề mới hoặc tạm dừng tuyển sinh; ngành, nghề phục vụ lĩnh vực kinh tế trọng điểm, công nghệ mới, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh hoặc nhiệm vụ chiến lược quốc gia,nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nhiệm vụ đặc biệt của Nhà nước chưa có đủ dữ liệu tuyển sinh 03 năm thì được xem xét đưa vào danh mục trên cơ sở dự báo nhu cầu nhân lực, nhu cầu tuyển dụng của xã hội./.

TOÀN VĂN: Dự thảo Thông tư ban hành danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu

Nguồn Chính Phủ: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/de-xuat-danh-muc-nganh-nghe-dao-tao-nang-nhoc-doc-hai-nguy-hiem-119261026111939894.htm