Đô thị lấn biển: Cần đánh giá tác động môi trường và hoàn thiện hành lang pháp lý
Tán thành việc bổ sung quy định về đô thị lấn biển vào dự thảo Luật Phát triển đô thị, đại biểu Vũ Văn Tiến, Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng, nhận định đây là xu hướng tất yếu nhưng yêu cầu phải đánh giá toàn diện các hệ lụy môi trường và xây dựng khung pháp lý chặt chẽ.

Ảnh minh họa
Thực tiễn phát triển và các rủi ro hệ lụy
Góp ý vào dự thảo Luật Phát triển đô thị tại Tổ thảo luận số 11, Đại biểu Quốc hội Vũ Văn Tiến bày tỏ sự tán thành đối với việc bổ sung Chương IV về cơ chế, chính sách đặc thù xây dựng khu đô thị lấn biển. Nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công với mô hình này để mở rộng không gian phát triển, như Nhật Bản xây dựng sân bay Kansai trên biển Osaka với chi phí 14 tỷ USD vào năm 1987 (tương đương gần 40 tỷ USD hiện nay), hay Singapore đã tăng 25% diện tích lãnh thổ nhờ lấn biển. Với Việt Nam, việc lấn biển tạo thêm không gian phát triển cho các vùng ven biển thiếu quỹ đất là nhu cầu rất lớn, đòi hỏi phải sớm hoàn thiện khung pháp lý để quản lý thống nhất.
Tuy nhiên, lấn biển là sự can thiệp trực tiếp vào thiên nhiên nên sẽ kéo theo nhiều hệ lụy lớn. Việc lấn biển có thể tàn phá hệ sinh thái ven bờ, làm xáo trộn quá trình bồi tụ và xói lở tự nhiên, đồng thời làm gia tăng nguy cơ thiên tai, lũ lụt trong điều kiện biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, nền đất lấn biển dễ bị sụt lún, mất ổn định, còn việc đổi dòng chảy bờ biển sẽ gây xói lở hoặc bồi đắp bất thường ở các vùng lân cận. Việc khai thác khối lượng lớn đất, đá, cát để san lấp cũng dễ gây tàn phá môi trường nơi cung cấp vật liệu. Ngoài ra, nếu thiếu cơ chế giám sát, lợi ích của doanh nghiệp có thể lấn át lợi ích cộng đồng.
Mặt khác, cuộc sống của người dân ven biển sẽ bị đảo lộn; chẳng hạn như tại Cần Giờ, nếu phải chuyển đổi sinh kế sang đất liền, người dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đất đai ở đây bị nhiễm mặn, không thể làm nông nghiệp truyền thống.
"Lấn biển có thể tạo ra nguồn lực phát triển lớn, đặc biệt trong việc mở rộng quỹ đất, xây dựng đô thị, hạ tầng và các không gian kinh tế mới. Tuy nhiên, đây không chỉ là một hoạt động xây dựng hay khai thác đất đai thông thường mà là sự can thiệp trực tiếp vào cấu trúc tự nhiên của vùng ven biển", Đại biểu Vũ Văn Tiến nhấn mạnh.

Đại biểu Vũ Văn Tiến, Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng, phát biểu
Từ góc nhìn này, ông lưu ý khâu đánh giá tác động môi trường cần phải được triển khai thực chất ngay từ bước lập dự án. Việc đánh giá không thể thực hiện qua sơ hay mang tính hình thức, mà bắt buộc phải dựa trên các khảo sát định lượng chi tiết về sự biến đổi dòng chảy, hệ sinh thái biển và nguy cơ sụt lún lâu dài trước khi xem xét cấp phép.
Giải pháp kiểm soát và định hướng bền vững
Để khắc phục các tác động tiêu cực, đại biểu Vũ Văn Tiến đề xuất Nhà nước cần sớm lập chiến lược và quy hoạch tổng thể lấn biển trên phạm vi toàn quốc, quy định rõ từng khu vực được phép, diện tích tối đa dựa trên các nghiên cứu khoa học về địa chất và hệ sinh thái. Các khu vực lấn biển phải nằm trong quy hoạch bắt buộc, được tính toán mật độ xây dựng và quy mô dựa trên khả năng chịu tải của môi trường. Đồng thời, dự án chỉ được cấp phép khi đã xác định rõ nguồn vật liệu san lấp hợp pháp và ổn định để tránh phá vỡ cân bằng sinh thái nơi khai thác.
Đặc biệt, đại biểu yêu cầu phải chấm dứt tình trạng lấn biển tự phát hoặc phê duyệt theo đề xuất riêng lẻ của từng nhà đầu tư. Cơ quan quản lý phải xem nguy cơ sụt lún, nước biển dâng và việc bảo tồn văn hóa biển là những tiêu chí sống còn khi thẩm định dự án. Cùng với đó, cần xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất để theo dõi, giám sát xuyên suốt các dự án lấn biển trên cả nước.
"Tôi tin tưởng và hi vọng, với tri thức của con người hiện nay, với những công nghệ hiện đại thì những tác động xấu của hoạt động lấn biển đã và đang được khắc phục tối đa", Đại biểu Vũ Văn Tiến chia sẻ.
Theo đó, ông đề xuất các cơ quan quản lý cùng doanh nghiệp cần chủ động ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất trong khảo sát, thiết kế và thi công lấn biển. Việc chủ động về mặt công nghệ chính là chìa khóa để giảm thiểu tổn hại sinh thái, đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế biển và bảo vệ môi trường cho tương lai.
