Đổi mới phương thức quản lý để nâng cao hiệu quả quản trị ngành nông nghiệp

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, ĐBQH Nguyễn Thị Lan (Hà Nội) đánh giá cao định hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ cấp phép sang tự công bố và quản lý dựa trên rủi ro, dữ liệu. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị hoàn thiện các quy định nhằm nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ người nông dân và an ninh nông nghiệp.

Chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm

Phát biểu thảo luận Tổ 1 (Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội) về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, ĐBQH Nguyễn Thị Lan thống nhất cao với sự cần thiết ban hành dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Phó trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội Phùng Thị Hồng Hà điều hành thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Quang Khánh

Phó trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội Phùng Thị Hồng Hà điều hành thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Quang Khánh

Theo đại biểu, điểm đổi mới lớn nhất của dự thảo lần này không chỉ là cắt giảm một số thủ tục hành chính hay điều kiện đầu tư kinh doanh, mà là đang chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước đối với ngành nông nghiệp, từ tiền kiểm sang hậu kiểm; từ cấp phép sang tăng cường trách nhiệm tự công bố, tự chịu trách nhiệm của tổ chức, cá nhân; từ quản lý theo hồ sơ sang quản lý dựa trên rủi ro, dữ liệu và mức độ tuân thủ.

"Đây là hướng đi đúng, phù hợp với chủ trương cải cách thủ tục hành chính, phát triển kinh tế tư nhân và thông lệ quốc tế", ĐBQH Nguyễn Thị Lan ghi nhận.

ĐBQH Nguyễn Thị Lan (Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Quang Khánh

ĐBQH Nguyễn Thị Lan (Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Quang Khánh

Tuy nhiên, do nông nghiệp có đặc thù rất khác các lĩnh vực khác với đối tượng quản lý chủ yếu là sinh vật sống; chu kỳ sản xuất dài; rủi ro sinh học, dịch bệnh và biến đổi khí hậu rất lớn; đồng thời liên quan trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu hộ nông dân và an ninh lương thực quốc gia. Vì vậy, đại biểu cho rằng cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực này không chỉ nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, mà còn phải bảo đảm chất lượng vật tư đầu vào, an toàn sinh học, bảo vệ người nông dân và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam.

ĐBQH Nguyễn Thị Lan khẳng định thành công của dự án Luật sẽ không chỉ được đo bằng số lượng thủ tục hành chính được cắt giảm, mà quan trọng hơn là chúng ta có xây dựng được một phương thức quản lý hiện đại, minh bạch và hiệu quả hay không. Với tinh thần đó, đại biểu đã tham gia một số góp ý cụ thể vào dự thảo Luật.

Trước hết, để thể chế hóa đầy đủ phương thức quản lý mới đó, đại biểu hoàn toàn đồng tình với việc dự thảo chuyển từ cơ chế công nhận lưu hành sang cơ chế tự công bố tại Điều 17 Luật Trồng trọt về tự công bố lưu hành giống cây trồng. Đây được coi là bước cải cách rất tích cực, góp phần rút ngắn thời gian đưa giống mới vào sản xuất và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, tạo điều kiện để đưa nhanh các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất. Tuy nhiên, đại biểu nhìn nhận dự thảo mới quy định trách nhiệm tại thời điểm tự công bố, mà chưa làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong suốt thời gian giống lưu hành trên thị trường.

Dẫn chứng một giống lúa hoặc giống ngô mới trong năm đầu cho năng suất rất cao nên nông dân mở rộng diện tích nhưng sau vài vụ nhân giống, nếu doanh nghiệp không duy trì giống gốc hoặc không kiểm soát chặt quy trình sản xuất thì giống có thể bị thoái hóa, giảm độ thuần và khả năng chống chịu sâu bệnh. Khi đó, thiệt hại trước hết thuộc về người nông dân, hợp tác xã và cả doanh nghiệp thu mua.

"Vì vậy, tôi đề nghị bổ sung trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong suốt thời gian giống lưu hành, bao gồm duy trì chất lượng, đảm bảo duy trì đúng giống, khả năng truy xuất nguồn gốc và chịu trách nhiệm khi giống không còn đáp ứng các đặc tính đã công bố, và quy định rõ trách nhiệm thu hồi hoặc chấm dứt hiệu lực tự công bố đối với giống không còn đáp ứng các đặc tính đã công bố theo quy định của pháp luật. Đây cũng là cách tiếp cận quản lý theo vòng đời sản phẩm mà nhiều quốc gia có nền nông nghiệp phát triển đang áp dụng", ĐBQH Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh.

Phân cấp trong lĩnh vực thú y phải đi đôi với chuẩn hóa về chuyên môn

Đối với Điều 33 Luật Chăn nuôi về tự công bố sản phẩm thức ăn chăn nuôi, ĐBQH Nguyễn Thị Lan đồng tình với chủ trương chuyển mạnh sang cơ chế tự công bố. Tuy nhiên, dự thảo mới quy định quyền tự công bố, tự cập nhật thông tin, nhưng chưa quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp sau khi thông tin đã được thay đổi.

Ví dụ, một doanh nghiệp đã tự công bố sản phẩm thức ăn chăn nuôi với thành phần và hàm lượng dinh dưỡng nhất định. Sau đó, doanh nghiệp thay đổi nguồn nguyên liệu hoặc công thức phối trộn để giảm giá thành nhưng không cập nhật đầy đủ thông tin. Người chăn nuôi vẫn sử dụng theo thông tin ban đầu, dẫn đến vật nuôi chậm lớn, giảm năng suất hoặc phát sinh dịch bệnh, trong khi cơ quan quản lý rất khó phát hiện nếu chỉ kiểm tra định kỳ.

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Quang Khánh

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Quang Khánh

"Tôi đề nghị khi giảm tiền kiểm thì cần tăng trách nhiệm của doanh nghiệp và tăng hiệu quả hậu kiểm, cần có nguyên tắc để bổ sung trách nhiệm cập nhật kịp thời các thay đổi về thành phần, tiêu chuẩn chất lượng và quy trình sản xuất; đồng thời quy định rõ việc tự công bố phải gắn với truy xuất nguồn gốc, công khai cảnh báo theo quy định pháp luật và thu hồi khi sản phẩm không còn đáp ứng chất lượng đã công bố. Quy định này sẽ vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, vừa bảo vệ người chăn nuôi và nâng cao hiệu quả của cơ chế hậu kiểm", ĐBQH Nguyễn Thị Lan đề xuất.

Riêng đối với Luật Thú y, đại biểu đánh giá công tác kiểm dịch động vật, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc thú y và các hoạt động chuyên ngành khác - đây là bước đi phù hợp nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục và nâng cao tính chủ động của địa phương. Do vậy, đại biểu hoàn toàn đồng tình với chủ trương phân cấp mạnh hơn cho địa phương trong một số thủ tục chuyên ngành kiểm dịch động vật, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc thú y và các hoạt động chuyên ngành khác. Đây được coi là bước đi phù hợp nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục và nâng cao tính chủ động của địa phương.

Tuy nhiên, ĐBQH Nguyễn Thị Lan cũng chỉ rõ dự thảo mới quy định về phân cấp nhưng chưa làm rõ nguyên tắc bảo đảm thống nhất về chuyên môn khi tổ chức thực hiện. Đối với lĩnh vực thú y, nếu chỉ phân cấp mà thiếu tiêu chuẩn, quy trình và dữ liệu thống nhất thì rất dễ dẫn đến tình trạng mỗi địa phương áp dụng một cách khác nhau.

Lấy dẫn chứng ở thực tiễn cho thấy, dịch bệnh động vật không dừng ở ranh giới hành chính. Ví dụ, khi xảy ra dịch tả lợn châu Phi hoặc cúm gia cầm, nếu việc kiểm dịch, giám sát và xử lý ổ dịch giữa các địa phương không được thực hiện thống nhất theo cùng một quy trình chuyên môn thì nguy cơ dịch bệnh lây lan sang địa phương khác sẽ rất lớn, đồng thời ảnh hưởng đến lưu thông hàng hóa và xuất khẩu. Vì vậy, đại biểu đề xuất cần phân cấp phải đi đôi với chuẩn hóa, bảo đảm thống nhất về tiêu chuẩn chuyên môn, quy trình kỹ thuật và cơ sở dữ liệu trên phạm vi cả nước.

Nâng cao khả năng thích ứng của nông nghiệp trước biến đổi khí hậu

Còn đối với Luật Tài nguyên nước, ĐBQH Nguyễn Thị Lan cũng hoàn toàn đồng tình với việc dự thảo sửa đổi các quy định về chuyển nước giữa các lưu vực sông và vận hành liên hồ chứa. Thế nhưng, hiện dự thảo mới quy định căn cứ điều hòa nguồn nước nhưng chưa làm rõ nguyên tắc ưu tiên khi nguồn nước không đủ đáp ứng đồng thời các nhu cầu sử dụng. Trong khi đó, đối với nông nghiệp, không chỉ cần đủ nước mà cần có nước đúng thời điểm. Điển hình như tại đồng bằng sông Cửu Long, nếu việc điều tiết nước ngọt chậm chỉ vài ngày trong giai đoạn lúa làm đòng hoặc sầu riêng ra hoa, đậu quả thì năng suất có thể giảm rất lớn. Trong khi đó, nếu nguồn nước được điều hành sớm trên cơ sở dự báo và dữ liệu thì với cùng một lượng nước vẫn có thể giảm đáng kể thiệt hại.

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Quang Khánh

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Quang Khánh

Vì vậy, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung nguyên tắc, trong trường hợp hạn hán, thiếu nước hoặc xâm nhập mặn, việc điều hòa, phân bổ nguồn nước phải ưu tiên trước hết cho nước sinh hoạt; đồng thời bảo đảm nhu cầu nước thiết yếu đối với các vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm, phù hợp với quy hoạch, khả năng của nguồn nước và yêu cầu bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia. Việc điều hành cần dựa trên dự báo, dữ liệu và nguyên tắc sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả để nâng cao khả năng thích ứng của nông nghiệp trước biến đổi khí hậu.

Khẳng định thành công của dự án Luật này sẽ không được đo bằng số lượng thủ tục hành chính được cắt giảm, mà bằng việc chúng ta có xây dựng được một phương thức quản lý mới của ngành nông nghiệp hay không, ĐBQH Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh đây chính là phương thức quản lý dựa trên trách nhiệm của doanh nghiệp, quản lý rủi ro, dữ liệu số, tiêu chuẩn kỹ thuật và khoa học công nghệ, thay cho quản lý chủ yếu bằng tiền kiểm và giấy phép.

"Nếu làm được điều đó, Luật sẽ vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, vừa bảo vệ người nông dân, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và tăng năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và biến đổi khí hậu", ĐBQH Nguyễn Thị Lan phân tích.

Phi Long

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/doi-moi-phuong-thuc-quan-ly-de-nang-cao-hieu-qua-quan-tri-nganh-nong-nghiep-10426523.html