Nâng tầm ngành gỗ từ vùng nguyên liệu bền vững
Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng '0' vào năm 2050, phát triển vùng nguyên liệu bền vững gắn với thị trường tín chỉ carbon đang mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành gỗ.

Ảnh minh họa
Gỡ “điểm nghẽn” vùng nguyên liệu để nâng cao chuỗi giá trị
Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ấn tượng. Theo số liệu của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), năm 2025, xuất khẩu gỗ vượt mốc 17 tỷ USD, đưa Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm các quốc gia xuất khẩu gỗ lớn nhất thế giới. 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đạt 8,6 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực là bài toán ngày càng cấp bách về nguồn nguyên liệu. Khi năng lực chế biến liên tục được mở rộng, nhu cầu gỗ nguyên liệu tăng nhanh, trong khi khả năng cung ứng trong nước chưa theo kịp đã khiến cạnh tranh thu mua diễn ra ngày càng gay gắt. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp trong từng phân khúc đều có nhu cầu về những loại nguyên liệu khác nhau. Trong khi doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất cần nguồn gỗ lớn phục vụ chế biến sâu thì ngành dăm gỗ, viên nén hay ván nhân tạo lại chủ yếu sử dụng gỗ nhỏ và phụ phẩm. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp cùng cạnh tranh một nguồn nguyên liệu từ rừng trồng, đặc biệt là keo và bạch đàn.
Không chỉ cạnh tranh giữa các ngành hàng, sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch vùng nguyên liệu và quy hoạch công nghiệp chế biến cũng tạo ra tình trạng mất cân đối cung - cầu tại nhiều địa phương. Những doanh nghiệp chủ động liên kết với hộ trồng rừng để xây dựng vùng nguyên liệu ổn định có lợi thế rõ rệt, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn trong việc bảo đảm nguồn cung lâu dài.
Đánh giá về thực trạng này, ông Phùng Quốc Mẫn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Chủ tịch HAWA cho rằng, thành công về xuất khẩu chưa đồng nghĩa với phát triển bền vững. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở sự thiếu gắn kết giữa vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến. “Xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa người trồng rừng, doanh nghiệp chế biến và chính quyền địa phương không chỉ giúp ổn định nguồn cung nguyên liệu mà còn nâng cao chất lượng gỗ, tạo nền tảng để ngành gỗ chuyển mạnh sang chế biến sâu và gia tăng giá trị”, ông Phùng Quốc Mẫn nhấn mạnh.
Ở góc độ nghiên cứu, TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc Chương trình Chính sách Lâm nghiệp, Thương mại và Tài chính của Forest Trends cho biết, Việt Nam hiện có khoảng 4,9 triệu ha rừng trồng, trong đó khoảng 4,1 triệu ha là rừng sản xuất - nguồn cung nguyên liệu chủ yếu cho ngành chế biến gỗ. Tuy nhiên, sau hơn hai thập kỷ phát triển rừng gỗ lớn, kết quả vẫn chưa đạt như kỳ vọng khi người trồng rừng chưa có đủ động lực kinh tế để kéo dài chu kỳ khai thác, trong khi doanh nghiệp chế biến sâu tại vùng nguyên liệu còn thiếu.
Từ thực tế đó, TS. Tô Xuân Phúc đề xuất, cần chuyển từ tư duy phát triển đơn lẻ sang quy hoạch vùng nguyên liệu theo từng vùng sinh thái, lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp với từng loại hình chế biến, đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hiệp hội và địa phương nhằm hình thành chuỗi cung ứng ổn định, giảm cạnh tranh thiếu bền vững trong thu mua nguyên liệu.
Thị trường carbon mở ra dư địa tăng trưởng mới
Nếu liên kết vùng nguyên liệu là điều kiện để bảo đảm nguồn cung ổn định thì các tiêu chuẩn xanh và thị trường tín chỉ carbon đang mở ra một động lực tăng trưởng mới cho ngành gỗ. Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chống mất rừng và giảm phát thải, phát triển lâm nghiệp bền vững không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là cơ hội để nâng cao giá trị sản phẩm. Các thị trường lớn không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn đặt ra yêu cầu cao về nguồn gốc hợp pháp của gỗ, khả năng truy xuất, chứng chỉ quản lý rừng bền vững và mức phát thải carbon trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để ngành gỗ tái cấu trúc theo hướng phát triển bền vững.
Ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhận định, thách thức lớn nhất hiện nay không phải là thiếu thị trường, mà là năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. Doanh nghiệp thích ứng nhanh với các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chống mất rừng và giảm phát thải sẽ có lợi thế tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, thị trường tín chỉ carbon được đánh giá sẽ mở ra không gian tăng trưởng mới cho ngành gỗ. Việc kéo dài chu kỳ khai thác, phát triển rừng gỗ lớn và áp dụng các biện pháp quản lý rừng bền vững không chỉ nâng cao chất lượng nguyên liệu phục vụ chế biến sâu mà còn tạo thêm nguồn thu từ tín chỉ carbon.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ông Nguyễn Văn Diện cho rằng, cần đồng thời đẩy mạnh quy hoạch vùng nguyên liệu đạt chuẩn, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ quản lý bền vững, tăng cường liên kết giữa người trồng rừng với doanh nghiệp chế biến và thúc đẩy đầu tư vào công nghệ chế biến sâu. Khi vùng nguyên liệu được phát triển theo hướng bền vững và gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến, ngành gỗ sẽ không chỉ giải quyết bài toán nguồn cung mà còn nâng cao giá trị sản phẩm, tận dụng hiệu quả cơ hội từ thị trường tín chỉ carbon và các xu hướng tiêu dùng xanh trên thế giới.
Theo các chuyên gia, dư địa tăng trưởng của ngành gỗ trong giai đoạn tới sẽ không còn đến từ việc mở rộng quy mô xuất khẩu đơn thuần mà phụ thuộc vào khả năng nâng cao chất lượng tăng trưởng. Phát triển vùng nguyên liệu bền vững, củng cố liên kết giữa người trồng rừng và doanh nghiệp chế biến, đồng thời khai thác hiệu quả giá trị từ tín chỉ carbon sẽ là nền tảng để ngành gỗ chuyển từ lợi thế về sản lượng sang lợi thế về giá trị. Đây cũng là con đường để ngành gỗ Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng với các tiêu chuẩn xanh và khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/nang-tam-nganh-go-tu-vung-nguyen-lieu-ben-vung-185685.html












