Động lực để giảm giá dầu

Tháng 10 năm 1981 là thời điểm cuối cùng mà giá dầu OPEC tăng, ít nhất là trong một thập kỷ. 'Quy luật tự nhiên về cung cầu' là động lực để giảm giá.

Tác giả: Daniel Yergin

Dầu mỏ, tiền bạc & quyền lực

Sách khắc họa toàn cảnh lịch sử ngành công nghiệp dầu mỏ - cuộc giao tranh giành tiền bạc và quyền lực xung quanh vấn đề dầu mỏ. Cuộc chiến này đã làm rung chuyển nền kinh tế toàn cầu, phản ánh hậu quả của các cuộc chiến tranh thế giới và khu vực, đồng thời thay đổi vận mệnh nhân loại nói chung và các quốc gia nói riêng.

Động lực để giảm giá dầu

Tháng 10 năm 1981 là thời điểm cuối cùng mà giá dầu OPEC tăng, ít nhất là trong một thập kỷ. “Quy luật tự nhiên về cung cầu” là động lực để giảm giá.

Tháng 12 năm 1980, bộ trưởng các quốc gia dầu mỏ OPEC đã nhóm họp tại Bali, tiếp tục thảo luận về vấn đề giá cả. Tuy nhiên một vấn đề khó xử đã xảy ra và cần được giải quyết trước khi tiến hành thảo luận. Hồi tháng 11, bộ trưởng dầu mỏ Iran đã có chuyến tham quan chiến trường gần Abadan. Tuy nhiên, ông không hề được thông báo là khu vực này đã bị Iraq chiếm đóng. Kết quả là ông bị bắt và giam cầm.

Bất kể là thành viên OPEC hay không, Iraq cương quyết không thả tự do cho ngài bộ trưởng. Iran giận giữ tới độ tẩy chay tất cả các cuộc họp của OPEC. Trong tình trạng ấy, cuộc họp tại Bali còn có thể tiếp tục? Và bộ trưởng dầu mỏ Indonesia, Tiến sĩ Subroto, đã phải viện đến nghệ thuật ngoại giao để tiến hành hòa giải nhằm xoa dịu hai bên.

Theo thông lệ, chỗ ngồi được sắp xếp theo thứ tự Alphabet. Và Iran cũng như Iraq không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải ngồi cạnh nhau. Tiến sĩ Subroto đã phá tiền lệ và ngồi vào giữa Iran - Iraq. Điều này khiến một vài người vốn quan tâm đến tuyến thủy lộ giữa hai quốc gia cho rằng Indonesia đang chiếm đóng Shatt-al-Arab.

Mặc dù vấn đề này đã được giải quyết nhưng lại nảy sinh nhiều rắc rối khác. Đoàn đại biểu Iran bước vào phòng hội nghị với bức chân dung cỡ lớn của ngài bộ trưởng dầu mỏ bị bắt giữ, và khăng khăng nói rằng ông vẫn là trưởng đoàn đại biểu của Iran. Họ kiên quyết làm những điều mình muốn. Tiến sĩ Subroto cho phép Iran đặt bức ảnh lên chiếc ghế dành cho vị bộ trưởng vắng mặt để khích lệ tinh thần các thành viên trong đoàn dù ông vắng mặt. Rắc rối giải quyết và hội nghị có thể bắt đầu. Hội nghị đi đến kết luận sẽ tiếp tục tăng giá dầu. Cú sốc thứ ba về giá có vẻ đang rất gần kề.

Cùng thời điểm nhưng cách đó nửa vòng Trái đất, bộ trưởng năng lượng các nước công nghiệp nhóm họp tại Paris. Ulf Lantzke, Giám đốc IEA, theo thông lệ, sẽ tổ chức một cuộc hội đàm thân mật tại văn phòng của mình, sau bữa tối dành cho các bộ trưởng, để thảo luận nhẹ nhàng và trao đổi ý kiến chuẩn bị cho phiên họp chính thức vào buổi sáng hôm sau. Không khí tại cuộc họp tối khá ảm đạm.

 Ảnh minh họa: Một cuộc họp OPEC.

Ảnh minh họa: Một cuộc họp OPEC.

Nỗ lực của Cơ quan năng lượng quốc tế trong việc khuyến khích sử dụng dầu dự trữ thay vì đi mua trong tình trạng bất ổn không đạt được thành công như mong đợi. Theo quan sát của một quan chức MITI, cụm từ “mua hàng không như mong muốn” là “ không chính xác và có ý nghĩa khác nhau đối với từng người”. Cụ thể tình trạng mua bán bừa bãi ở một số công ty thương mại Nhật Bản rất nghiêm trọng trong buổi tối của whiskey và xì gà tại văn phòng Lantzke hôm đó, nó là vấn đề gây nhiều tranh cãi.

Cuối cùng, khi gần đến nửa đêm, vị bá tước oai nghiêm Etienne Davignon đến từ Thụy Sĩ, đồng thời là ủy viên cao cấp và có tầm ảnh hưởng lớn trong Cộng đồng châu Âu, đã mất hết kiên nhẫn. Ông quay về phía người đại diện Nhật Bản và nói thẳng thừng: “Nếu các ngài không giám sát các công ty thương mại của mình thì các ngài có thể quên chuyện đưa sản phẩm Toyota và Sony vào thị trường châu Âu.”

Căn phòng trở nên im lặng. Vị quan chức Nhật Bản trầm tư trong giây lát, cân nhắc câu trả lời. Cuối cùng, ông lên tiếng: “Tôi biết ngài có tầm ảnh hưởng lớn đến thế giới”. Và ông không nói thêm câu nào nữa.

MITI tăng cường “hướng dẫn quản lý” để tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty. Những công ty này nhận thông điệp, và mua dầu có kiểm soát hơn giống như các công ty dầu mỏ của Mỹ và Anh đã làm. Tuy nhiên, khi đã tham gia thị trường, họ trở nên nhạy bén hơn các quyết sách của chính phủ. Nhờ vậy, cuối năm 1980, tình hình trở nên sáng sủa hơn. Mặc dù dầu dự trữ vẫn ở mức cao, nhưng nhu cầu về dầu giảm nhanh và giá thị trường suy yếu. Điều này khiến việc tích trữ dầu không phải là một biện pháp tiết kiệm kinh tế, do đó, động cơ sử dụng nguồn dầu dự trữ thay vì mua bổ sung trở nên mạnh hơn.

Suốt thời gian kể từ cuối năm 1978, Ả-rập Xê-út đã sản xuất dầu với tốc độ chóng mặt nhằm ngăn chặn giá dầu tiếp tục tăng cao và với mục đích áp đặt quy định đối với các nước thành viên khác của OPEC. Yamani từng nói: “Chúng ta đã kiểm soát được tình trạng dư cung, và đó là điều chúng ta mong muốn để có thể ổn định giá cả.” Ả-rập Xê-út sẽ không để sự việc bất lợi nào như cuộc chiến giữa Iraq ‑ Iran làm đổ bể chiến lược của họ, vì thế ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến, Ả-rập Xê-út thông báo sản lượng của họ đã tăng thêm 900 nghìn thùng dầu một ngày. Đối với Ả-rập Xê-út, sản lượng tăng thêm này tương đương với gần một phần tư sản lượng bị mất của hai bên tham chiến Iran - Iraq.

Các nước xuất khẩu dầu mỏ khác của OPEC cũng đẩy nhanh sản lượng, thậm chí, một vài công ty dầu mỏ của Iran và Iraq cũng bắt đầu quay trở lại thị trường. Cùng lúc, sản xuất dầu mỏ của Mexico, Anh, Na Uy, và các quốc gia ngoài OPEC khác cũng như khu vực Alaska tiếp tục gia tăng.

Tình trạng dư cung đã hoàn toàn chấm dứt. Người ta không còn phải sử dụng dầu dự trữ e dè nữa mà tiêu dùng hết sức thoải mái. Người mua hiện tại cũng bắt đầu phản đối tình trạng giá cao. Các nước sản xuất dầu mỏ ngoài OPEC sốt ruột tăng thị phần bằng cách giảm giá thật mạnh. Nhưng thành quả mà các quốc gia này thu được lại là những tổn thất mà OPEC phải gánh chịu, dẫn đến nhu cầu về dầu do các quốc gia OPEC sản xuất lại giảm sút. Sản lượng của OPEC năm 1981 chỉ đạt 27%, thấp hơn so với sản lượng năm 1979, và thực tế là thấp nhất kể từ 1970. Lời tiên đoán của Yamani cuối cùng cũng thành sự thực.

OPEC đã đi gần đến phía cuối con đường, mặc dù cả các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC lẫn các nước tiêu dùng dầu mỏ ở phương Tây cũng như các quốc gia công nghiệp khác đều không biết phải làm gì tiếp theo. Nhiệm kì tổng thống của Carter kết thúc. Cuối cùng, Iran cũng có cơ hội làm bẽ mặt Carter. Các con tin bị bắt giữ tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran sẽ không được trả tự do cho tới ngày Carter rời khỏi Nhà Trắng, nhường ghế lại cho Ronald Reagan, vị chính khách sôi nổi và đầy tự tin đã để lại nhiều thiện cảm với ủy ban bầu cử hơn so với Carter.

Trong khi đó, thị trường dầu mỏ đã có phản ứng với hiện tượng giá dầu tăng cao trong suốt những năm 1970 và tâm lý lo sợ tương lai của người tiêu dùng. Tuy vậy các nước xuất khẩu vẫn chưa sẵn sàng đối mặt với thực tế là hiện đang có sự chuyển biến đối với các “điều kiện khách quan” của thị trường.

Họ sẽ không tính tới việc giảm giá. Giá cả vẫn rất bất ổn cho đến tận tháng 10 năm 1981, các nước này mới đạt được thỏa thuận mới. Ả-rập Xê-út tăng giá từ 32 đôla lên 34 đôla một thùng, trong khi các nước khác đồng ý giảm giá từ 36 đôla xuống còn 34 đôla một thùng. Do đó, giá cả đã được thống nhất lại. Khi diễn ra những thay đổi này, giá dầu trung bình trên thị trường thế giới cũng tăng từ 1 đến 2 đôla do ảnh hưởng của việc Ả-rập Xê-út tăng giá. Đối với các nhà sản xuất khác, thỏa hiệp này đồng nghĩa với việc cắt giảm giá. Cuối cùng, Ả-rập Xê-út đã đồng ý với bản hợp đồng thương mại sẽ giảm mức sản xuất trần xuống như cũ là 8.5 triệu thùng một ngày.

Iran và Iraq vẫn đóng cửa giao thương sau cuộc chiến cay đắng. Nhưng cuộc chiến giữa hai trong số những nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới này chỉ cản trở chứ không thể xóa bỏ sức ảnh hưởng của hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ. Tháng 10 năm 1981 sẽ là thời điểm cuối cùng mà giá dầu OPEC tăng, ít nhất là trong một thập kỷ. “Quy luật tự nhiên về cung cầu” là động lực để giảm giá, mặc dù, chắc chắn vẫn còn nhiều đe dọa. Điều này Yamani nói, đơn giản như 1+1=2 vậy

Daniel Yergin

Omega+ và NXB Thế giới

Nguồn Znews: https://znews.vn/dong-luc-de-giam-gia-dau-post1642635.html