Đồng Tháp đặt mục tiêu xuất khẩu thủy sản 1,2 tỷ USD vào năm 2030
Đến năm 2030, tỉnh Đồng Tháp phấn đấu sản lượng thủy sản chế biến xuất khẩu đạt 480.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD; tốc độ tăng trưởng sản lượng thủy sản chế biến đạt trên 6%/năm.

Công nhân vùng nuôi của Công ty cổ phần Gò Đàng tại Khu công nghiệp Mỹ Tho, phường Trung An, tỉnh Đồng Tháp, cho cá tra ăn. Ảnh: Hữu Chí - TTXVN
Với lợi thế đa dạng về không gian sinh thái từ vùng nước ngọt Đồng Tháp Mười, hệ thống sông Tiền, sông Hậu đến vùng ven biển Gò Công, tỉnh Đồng Tháp đang định hướng tái cơ cấu toàn diện ngành thủy sản theo hướng hiện đại, sinh thái, tuần hoàn và gia tăng giá trị. Không chỉ đặt mục tiêu tăng sản lượng, địa phương tập trung tổ chức lại không gian sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao chất lượng con giống, đẩy mạnh chế biến sâu và xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến xuất khẩu.
Theo Đề án phát triển thủy sản bền vững trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được UBND tỉnh Đồng Tháp phê duyệt tại Quyết định số 3303/QĐ-UBND ngày 21/10/2026, đến năm 2030, tỉnh phấn đấu trở thành trung tâm phát triển thủy sản của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tập trung vào những lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh như sản xuất cá tra và giống thủy sản nước ngọt chất lượng cao, nuôi trồng và chế biến sâu cá tra, phát triển thủy sản nước lợ, nuôi biển, logistics và xuất khẩu.
Theo đánh giá của tỉnh, sau hợp nhất, Đồng Tháp có không gian phát triển thủy sản rộng lớn, liên kết từ khu vực biên giới giáp Campuchia, vùng Đồng Tháp Mười, các vùng ven sông Tiền, sông Hậu đến khu vực cửa sông và ven biển Gò Công. Đây là lợi thế để hình thành hệ sinh thái thủy sản liên hoàn, kết nối sản xuất giống, nuôi trồng, khai thác, chế biến và thương mại trong cùng một không gian kinh tế.
Trên cơ sở lợi thế sinh thái, Đề án định hướng phân chia không gian phát triển theo từng tiểu vùng. Trong đó, vùng Đồng Tháp Mười ưu tiên các mô hình lúa-cá, cá- sen, bảo tồn cá đồng và du lịch sinh thái đất ngập nước; vùng ven sông Tiền, sông Hậu tập trung phát triển cá tra công nghệ cao, cá lồng bè và các dịch vụ hậu cần nghề cá; khu vực cửa sông, ven biển Gò Công phát triển nuôi tôm nước lợ, nuôi nhuyễn thể, khai thác thủy sản gắn với bảo tồn rừng ngập mặn và du lịch cộng đồng.

Cá tra thương phẩm hiện được mua với giá cao gần 40.000 đồng/kg. Ảnh: Hữu Chí - TTXVN
Đối với cá tra, tỉnh xác định đây tiếp tục là ngành hàng thủy sản chiến lược, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Đến năm 2030, diện tích nuôi cá tra thương phẩm của tỉnh dự kiến đạt 4.300 ha, sản lượng ước tính khoảng 847.000 tấn, giá trị sản xuất ước tính đạt trên 13.800 tỷ đồng, tăng bình quân 7,3%/năm trong giai đoạn 2025-2030.
Trong đó, vùng giữa sông Tiền, sông Hậu và khu vực Đồng Tháp Mười được định hướng là vùng nuôi cá tra chính, tập trung ứng dụng công nghệ cao, nuôi tuần hoàn nước và kiểm soát môi trường để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Tỉnh phấn đấu khu vực này chiếm 80% tổng sản lượng cá tra toàn tỉnh, cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho các nhà máy chế biến xuất khẩu.
Đối với thủy sản nước lợ, tỉnh tập trung phát triển nuôi tôm với sản lượng mục tiêu 27.800 tấn vào năm 2030. Vùng ven biển Gò Công được quy hoạch là vùng trọng điểm phát triển nuôi tôm nước lợ theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, có liên kết với doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú được khuyến khích ứng dụng công nghệ mới, kiểm soát môi trường và dịch bệnh, thích ứng với tình trạng xâm nhập mặn ngày càng sâu.
Tỉnh cũng định hướng phát triển nuôi nhuyễn thể theo quy hoạch, diện tích nuôi tập trung đến năm 2030 đạt 3.670 ha, sản lượng đạt 26.300 tấn. Hoạt động nuôi phải gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái rừng ngập mặn và cửa sông, đồng thời tăng cường liên kết giữa hộ nuôi, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu.
Đáng chú ý, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% cơ sở sản xuất giống thủy sản thuộc diện quản lý đáp ứng điều kiện theo quy định; 100% cơ sở nuôi cá tra, tôm nước lợ và thủy sản lồng bè được cấp giấy xác nhận nuôi trồng thủy sản, đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm và áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, Đồng Tháp chú trọng phát triển sản xuất giống chất lượng cao, nhất là cá tra giống, tôm càng xanh và các loài thủy sản bản địa. Tỉnh định hướng hình thành các vùng sản xuất giống tập trung, ứng dụng công nghệ hiện đại, kiểm soát dịch bệnh và chất lượng con giống ngay từ đầu vào. Đến năm 2030, phấn đấu sản lượng bột cá tra đạt 23.280 triệu con và sản lượng cá tra giống đạt 2.670 triệu con.

Chế biến cá tra xuất khẩu ở Công ty cổ phần Gò Đàng tại Khu công nghiệp Mỹ Tho, phường Trung An, tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Hữu Chí - TTXVN
Cùng với tổ chức lại sản xuất, chế biến sâu được xác định là khâu quan trọng để nâng cao giá trị ngành thủy sản. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu sản lượng thủy sản chế biến xuất khẩu đạt 480.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD; tốc độ tăng trưởng sản lượng thủy sản chế biến đạt trên 6%/năm. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm thủy sản chế biến giá trị gia tăng đạt bình quân trên 40%.
Để đạt các mục tiêu đề ra, Đồng Tháp xác định khoa học công nghệ và chuyển đổi số là động lực quan trọng nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh. Tỉnh định hướng ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ gen, công nghệ nuôi tuần hoàn, Biofloc, RAS, IoT, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong sản xuất, quản lý vùng nuôi, bảo quản sau thu hoạch và chế biến.
Đặc biệt, tỉnh xây dựng hệ thống dữ liệu số ngành thủy sản, kết nối thông tin từ sản xuất, quản lý, tiêu thụ đến truy xuất nguồn gốc. Hệ thống quản lý tập trung sẽ tích hợp dữ liệu về cơ sở nuôi, quan trắc môi trường, giám sát dịch bệnh, an toàn thực phẩm và quản lý tàu cá, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và dự báo sản xuất.
Trong lĩnh vực khai thác, tỉnh định hướng tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản và thủy sản nội địa hợp lý, giảm dần các nghề có tính hủy diệt nguồn lợi, chuyển đổi sang nghề thân thiện với môi trường. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát tàu cá, truy xuất nguồn gốc sản phẩm khai thác, phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá và nâng cấp hạ tầng cảng cá.

