Dữ liệu giới của Việt Nam trả lời được bao nhiêu phần trăm câu hỏi thực tiễn?
Việt Nam bước vào giai đoạn rà soát Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới tầm nhìn 2027-2030. Giữa những kết quả đáng ghi nhận khi phần lớn chỉ tiêu chạm vạch đích, bài toán đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách là, muốn biết ai đang thụ hưởng và ai đang bị bỏ lại phía sau, chúng ta không thể tiếp tục xoay sở với một hệ thống số liệu rời rạc và nằm rải rác ở nhiều đầu mối.

Ảnh minh họa
Phía sau những con số vĩ mô
Nói đến bình đẳng giới, nhiều người vẫn nghĩ đây chỉ là chuyện an sinh xã hội hay khẩu hiệu nhân đạo. Nhưng thực ra, đây là một động lực kinh tế rất lớn giúp đất nước phát triển bền vững hơn trước mọi biến động.
Nhìn lại chặng đường 5 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030, chúng ta ghi nhận khi có tới 13 trên tổng số 20 chỉ tiêu đã đạt và vượt mục tiêu đến năm 2025. Tuy nhiên, những con số tổng kết vĩ mô đó đôi khi chỉ phản ánh bề nổi và rất dễ làm chúng ta lầm tưởng rằng mọi thứ đã hoàn hảo.
Lấy ví dụ thực tế về tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương đã vượt mốc 52%, vượt xa mục tiêu ban đầu. Nhìn vào tỷ lệ ấy, ai cũng thấy mừng. Nhưng đi sâu vào thực tế, con số chung chung đó hoàn toàn chưa trả lời được câu hỏi: Số đông phụ nữ ấy đang làm những công việc nào, thu nhập ra sao, có được đóng bảo hiểm xã hội hay có cơ hội thăng tiến bằng nam giới không? Nói cách khác, hệ thống dữ liệu hiện nay mới chỉ giải đáp được một phần rất nhỏ bề nổi, còn phần lớn các câu hỏi cốt lõi về bản chất và chiều sâu thực tế vẫn đang bỏ ngỏ.
Chính sự thiếu hụt trong việc phân tách dữ liệu theo độ tuổi, ngành nghề, khu vực hay dân tộc đã tạo ra những "điểm mù" trong chính sách. Khi dữ liệu chỉ dừng lại ở việc đếm tổng số người tham gia một chương trình hỗ trợ thay vì làm rõ "nhóm nào chưa tiếp cận được và vì sao", nhà quản lý rất khó nắm bắt tình hình thực tế.
Thực trạng phân tán số liệu này không chỉ làm khó cấp vĩ mô mà còn trực tiếp bó buộc những người làm công tác thực thi ở tuyến cơ sở. Bởi phần lớn cán bộ phụ trách lĩnh vực này phải làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Khi thiếu một hệ thống dữ liệu tập trung từ trung ương, họ buộc phải tự nhặt nhạnh và chắp vá số liệu từ nhiều nguồn với các tiêu chí khác nhau. Hệ quả là thông tin thu về luôn chậm so với thực tế, biến các báo cáo cuối năm trở thành thủ tục hành chính hình thức thay vì là công cụ đắc lực để điều chỉnh chính sách.

Hội nghị sơ kết 5 năm (2021 -2025) thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030. Ảnh: Bảo Quyên
Phát biểu tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030, vừatổ chức tại TP Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thị Hà đã chỉ rõ những khoảng trống lớn trong hệ thống số liệu hiện nay: "Kết quả thực hiện Chiến lược vẫn còn những khoảng trống cần được khắc phục trong giai đoạn tới. Một số chỉ tiêu chưa đạt mục tiêu đề ra, trong khi một số chỉ tiêu chưa thu thập được số liệu, trong đó có tỷ lệ nữ giám đốc, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã và tỷ suất sinh ở vị thành niên."
Tham gia thảo luận tại các diễn đàn chính sách về vấn đề này, GS.TS Hoàng Văn Cường từng chia sẻ rằng bình đẳng thực chất không phải là sự chia đều nguồn lực một cách cơ học, mà là sự ngang bằng trong cơ hội tiếp cận; nếu thiếu dữ liệu soi chiếu, mọi quyết định phân bổ ngân sách sẽ chỉ dựa vào cảm tính. Chia sẻ thêm về vấn đề này, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng Đại diện UN Women tại Việt Nam, cũng đúc kết một nguyên tắc mang tính cốt lõi: "Điều gì được đo lường, cũng sẽ được thực hiện", qua đó khẳng định hệ thống số liệu chuẩn xác chính là tấm gương phản chiếu chính xác nhất hiệu quả của mọi chính sách phát triển.
Bài học quốc tế và hướng đi mới
Những điểm nghẽn của Việt Nam càng trở nên rõ ràng hơn khi nhìn sang cách mà các quốc gia phát triển trên thế giới vận hành. Thay vì để số liệu nằm rải rác, các nước Bắc Âu hay Canada đã biến dữ liệu giới thành xương sống trong mọi quyết định phân bổ ngân sách công. Họ không chỉ đếm số lượng người thụ hưởng đơn thuần, mà tiến hành khảo sát chi tiết thời gian sinh hoạt, lộ trình di chuyển và gánh nặng chăm sóc gia đình để thiết kế chính sách trúng đích.
Chẳng hạn, từ dữ liệu phân tách giới về thói quen giao thông, các đô thị lớn tại châu Âu đã tái cấu trúc lại biểu đồ giờ chạy xe buýt và hệ thống chiếu sáng để triệt tiêu những điểm mù an toàn cho lao động nữ về đêm. Cách làm này cho thấy dữ liệu chuẩn mực chính là chìa khóa để đồng vốn ngân sách không bị rơi vào cảm tính.

TS Dương Thị Thanh Mai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.
Bước sang giai đoạn 2027 - 2030, yêu cầu hoàn thiện hạ tầng thông tin càng trở nên cấp bách. Tại Hội nghị tham vấn, phản biện xã hội đối với nội dung sửa đổi Luật Bình đẳng giới do Hội LHPN Việt Nam vừa tổ chức, TS Dương Thị Thanh Mai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, đã chỉ rõ: "Dù hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia đã tách biệt theo giới, chúng ta vẫn thiếu vắng một cơ chế thu thập dữ liệu đồng bộ. Do đó, việc sửa đổi Luật Bình đẳng giới sắp tới bắt buộc phải hướng tới việc xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về bình đẳng giới được kết nối, chia sẻ liên thông với hệ thống thống kê quốc gia và cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương.
Đó cũng là bước đi thiết thực để hiện thực hóa mục tiêu minh bạch hóa thông tin mà Bộ Nội vụ đang đẩy mạnh trong Dự án Luật sửa đổi. Tất nhiên, hệ thống mới không cần vẽ ra quá nhiều chỉ tiêu, mà quan trọng nhất là con số phải chuẩn và dùng được lâu dài. Mỗi chỉ tiêu đưa ra phải gắn với một cơ quan chịu trách nhiệm cụ thể, đo đạc được đều đặn và phản ánh đúng thực tế thay vì chạy theo thành tích trên giấy.
Khi dữ liệu đã sạch và quy về một mối, những người làm thực tế mới không còn vất vả, công việc cũng rõ ràng, rành mạch hơn. Lúc đó, bình đẳng giới sẽ không chỉ nằm trên những trang báo cáo khô khan, mà thực sự trở thành chiếc gương phản chiếu để thấy ai đang tiến lên, ai còn ở lại phía sau trong từng góc đời sống.
