Đưa khoa học, công nghệ thành động lực tăng trưởng kinh tế thực chất

Công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh, tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới và nâng cao năng suất lao động, chứ không chỉ dừng ở thay đổi phương thức quản lý.

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) cho rằng, Việt Nam cần tăng cường các đơn đặt hàng của doanh nghiệp, chính phủ, cá nhân trong nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Ảnh: CTV

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) cho rằng, Việt Nam cần tăng cường các đơn đặt hàng của doanh nghiệp, chính phủ, cá nhân trong nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Ảnh: CTV

Phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) xung quanh vấn đề này.

Sau gần 2 năm triển khai Nghị quyết 57, Việt Nam đã có những chuyển động về hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và thúc đẩy ứng dụng công nghệ. Theo ông, làm thế nào để chuyển những kết quả này thành động lực tăng trưởng thực chất và những lĩnh vực nào có thể tạo đột phá?

Chuyển biến quan trọng trước hết là sự thay đổi nhận thức về vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Quốc gia. Việt Nam đã ban hành các đạo luật liên quan đến dữ liệu, công nghệ và công nghiệp số; cơ bản hoàn thành hệ thống dữ liệu số về dân cư VneID (ứng dụng định danh điện tử quốc gia của Việt Nam), số hóa gần 80% dữ liệu Quốc gia về đất đai và đẩy mạnh số hóa thủ tục hành chính.

Gia Lai khởi công Trung tâm nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo AI. Ảnh: Sỹ Thắng/TTXVN

Gia Lai khởi công Trung tâm nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo AI. Ảnh: Sỹ Thắng/TTXVN

Nhiều giao dịch trong thương mại điện tử, ngân hàng, thanh toán điện, nước, cước viễn thông và các lĩnh vực khác đã được thực hiện trực tuyến. Doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân cũng được khuyến khích ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để tinh gọn bộ máy, nâng cao năng suất, chất lượng công việc và đổi mới mô hình kinh doanh.

Việt Nam đã ban hành danh mục 10 công nghệ chiến lược và 100 sản phẩm công nghệ chiến lược, tạo cơ sở tập trung nguồn lực vào làm chủ công nghệ lõi, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.

Những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá gồm thương mại điện tử, dịch vụ công trực tuyến, ngân hàng - tài chính, sản xuất - chế tạo và logistics. Công nghệ số giúp mở rộng quy mô giao dịch, giảm chi phí, rút ngắn thời gian xử lý công việc. AI hỗ trợ thiết kế sản phẩm, tự động hóa sản xuất và tiết kiệm năng lượng; công nghệ logistics giúp tối ưu hóa hoạt động giao hàng.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh, tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới và nâng cao năng suất lao động, chứ không chỉ dừng ở thay đổi phương thức quản lý.

Làm thế nào để người dân và doanh nghiệp thực sự được hưởng lợi từ Nghị quyết 57, thưa ông?

Chúng ta cần coi người dân và doanh nghiệp là chủ thể, trung tâm của quá trình sáng tạo và trực tiếp hưởng lợi từ Nghị quyết. Dịch vụ công cần được hiện đại hóa, tự động hóa toàn trình, hướng tới tốc độ xử lý nhanh, chi phí thấp và thuận tiện nhất.

Doanh nghiệp cần được tiếp cận thuận lợi các nguồn lực thiết yếu như tài chính, công nghệ, đất đai và nhân lực. Người dân cần được hưởng hàng hóa, dịch vụ chất lượng cao với giá cả hợp lý. Đồng thời, cần khuyến khích, tôn vinh các sáng kiến và có cơ chế chuyển hóa sáng tạo thành giá trị kinh tế, góp phần cải thiện phúc lợi.

Các chương trình, dự án phải hướng tới kết quả thực chất, cải thiện mức sống, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình và người tiêu dùng, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.

Thưa ông, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), hộ kinh doanh hiện vẫn gặp khó khăn về vốn, kỹ năng số và khả năng tiếp cận công nghệ. Việt Nam cần có giải pháp gì để “không ai bị bỏ lại phía sau” trong quá trình thực hiện Nghị quyết 57?

DNNVV, hộ kinh doanh là những đối tượng dễ bị tổn thương, tôi cho rằng, các chính sách của Việt Nam vẫn cần có những hỗ trợ thiết thực. Trước hết, cần tạo điều kiện để họ tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, tham gia các chương trình đào tạo kỹ năng số, khuyến công, khuyến thương và được tư vấn phát triển kịp thời, hiệu quả.

Bên cạnh đó, ngành Tài chính cần có chính sách miễn, giảm thuế phù hợp; hỗ trợ tìm kiếm thị trường, xây dựng chuỗi giá trị và khuyến khích doanh nghiệp lớn tạo điều kiện để DNNVV, hộ kinh doanh tham gia vào mạng lưới sản xuất, kinh doanh.

Có thể chuyển giao những khâu gia công đơn giản; đồng thời hướng dẫn các chủ thể nhỏ chủ động kết nối với tập đoàn lớn thông qua các chương trình do Nhà nước hỗ trợ ở Trung ương và địa phương.

Cần có những đánh giá tổng kết, phổ biến những mô hình kinh doanh hiệu quả trong và ngoài nước thông qua sổ tay, cẩm nang với chi phí thấp hoặc miễn phí; lực lượng hỗ trợ trực tiếp, thường xuyên và thuận tiện để giúp doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội phát triển.

Theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất khiến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ chưa được chuyển hóa thành sản phẩm thương mại và động lực tăng trưởng? Việt Nam cần ưu tiên những chính sách nào trong giai đoạn 2026 - 2030?

Điểm nghẽn đáng chú ý là thị trường khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa được hình thành, phát triển tương xứng và hiệu quả. Nhiều kết quả nghiên cứu vẫn gặp khó khăn khi thương mại hóa, chưa chuyển hóa thành giá trị gia tăng và động lực tăng trưởng.

Vì vậy, Việt Nam cần có các tổ chức trung gian chuyên nghiệp, kết nối thường xuyên giữa lực lượng nghiên cứu với doanh nghiệp, đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng, tạo ra công nghệ, sản phẩm và dịch vụ mới, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, cải thiện thu nhập người lao động và tăng nguồn thu ngân sách.

Trước hết, các chính sách của Việt Nam cần ưu tiên nguồn lực và khuyến khích đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hỗ trợ thực chất hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao. Với các công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược, cần tập trung nguồn lực tài chính, nhân lực chất lượng cao, đồng thời thu hút chuyên gia quốc tế để giải mã và làm chủ công nghệ.

Cơ chế, chính sách cũng cần khuyến khích nghiên cứu có kiểm soát rủi ro, tạo điều kiện cho những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và không ngừng đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, cần tăng cường các đơn đặt hàng nghiên cứu và phát triển từ doanh nghiệp, Chính phủ và cá nhân; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển dịch năng lượng hướng tới phát thải ròng bằng 0. Các bên cần thực hiện nguyên tắc hài hòa lợi ích, chia sẻ rủi ro.

Thứ ba, phải phát triển thị trường khoa học, công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa và hình thành chuỗi liên kết từ nghiên cứu, phát triển đến ứng dụng. Cần phát huy các sàn giao dịch công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo và hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo để đưa công nghệ, sản phẩm mới ra thị trường.

Cuối cùng, chúng ta cần chú trọng phát triển đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia công nghệ và lực lượng nghiên cứu chất lượng cao; đầu tư cho phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu, vườn ươm công nghệ; đồng thời coi trọng giáo dục STEM (phương pháp giáo dục tích hợp kiến thức) trong hệ thống giáo dục quốc gia nhằm xây dựng lực lượng kế cận đông đảo, chất lượng cao.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Minh Phương/báo Tin tức và Dân tộc (thực hiện)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/dua-khoa-hoc-cong-nghe-thanh-dong-luc-tang-truong-kinh-te-thuc-chat-post1396410.html