Đưa pháp luật đến gần hơn với đồng bào dân tộc thiểu số: Từ con số đến những chuyển biến thực chất
Phổ biến, giáo dục pháp luật ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là cung cấp văn bản hay tổ chức các buổi tuyên truyền. Điều quan trọng hơn là giúp người dân hiểu quyền, nghĩa vụ của mình, biết cách thực hiện và có thể tìm đến cơ quan có thẩm quyền khi quyền, lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng.

Phổ biến, tuyên truyền pháp luật cần chuyển từ diện rộng sang tiếp cận có trọng tâm, dễ tiếp thu, phù hợp với nhu cầu - Ảnh: Thu Hiền
Từ phổ biến rộng đến tiếp cận đúng nhu cầu
Trong đời sống hằng ngày, những vấn đề liên quan đến đất đai, nhà ở, hôn nhân và gia đình, việc làm, bảo vệ môi trường hay thực hiện các chính sách hỗ trợ đều có thể đặt ra yêu cầu tìm hiểu và áp dụng pháp luật. Với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thông tin pháp luật càng cần được truyền tải phù hợp với điều kiện sinh sống, khả năng tiếp cận thông tin và những vấn đề thực tế tại từng địa bàn.
Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 của Bộ Tư pháp về tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thấy, trong 13 năm thực hiện Luật, cả nước đã tổ chức hơn 3,6 triệu cuộc phổ biến pháp luật trực tiếp cho gần 492,7 triệu lượt người; biên soạn, cấp phát miễn phí hơn 277,1 triệu tài liệu. Trong số này, gần 2 triệu tài liệu phổ thông được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số và tiếng nước ngoài.
Những con số trên phản ánh quy mô triển khai lớn và nỗ lực đa dạng hóa hình thức truyền tải thông tin. Tuy nhiên, số cuộc tuyên truyền hay số tài liệu phát hành chưa thể tự nó trả lời câu hỏi: Người dân đã hiểu những quy định liên quan trực tiếp đến mình đến đâu? Từ góc nhìn thực tiễn, việc lượng hóa và "mềm hóa" công tác này đang mang lại những kết quả rõ nét. Đơn cử tại Gia Lai, thay vì chỉ phát tờ rơi khô khan, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-HĐND quy định mức chi cụ thể nhằm khuyến khích sáng tạo các sản phẩm truyền thông sinh động như "Tình huống giải đáp pháp luật", "Câu chuyện pháp luật", hay "Tiểu phẩm pháp luật". Đây chính là bước chuyển mình cần thiết từ phổ biến pháp luật theo diện rộng sang tiếp cận có trọng tâm, dễ tiếp thu, phù hợp với nhu cầu, văn hóa của từng nhóm dân cư.
Pháp luật phải bắt đầu từ những vấn đề người dân gặp phải
Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nội dung tuyên truyền cần gắn với những tình huống cụ thể. Khi phổ biến pháp luật về đất đai, cần giúp người dân hiểu các quy định liên quan đến quyền sử dụng đất, thủ tục hành chính và cách xử lý tranh chấp. Với pháp luật về hôn nhân, cần chú trọng phòng, chống bạo lực gia đình, tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.
Cách tiếp cận này đang được minh chứng sinh động tại nhiều địa phương. Tại Đắk Lắk – địa bàn rộng với đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, Ủy ban nhân dân tỉnh đã kịp thời ban hành Kế hoạch số 181/KH-UBND (tháng 5/2026) nhằm triển khai Đề án của Chính phủ về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhóm đối tượng đặc thù này giai đoạn 2026-2035. Điểm sáng ở Đắk Lắk là các kiến thức pháp lý không đứng độc lập mà được lồng ghép khéo léo qua các chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ, hay công tác dân vận của lực lượng vũ trang tại cơ sở. Khi những quy định về an ninh trật tự, luật biên giới được trao đổi ngay trong các buổi thăm hỏi, hỗ trợ gia đình khó khăn, pháp luật đã thực sự "bắt rễ" vào đời sống.
Tương tự, tại Gia Lai, các mô hình thực tế như "Phiên tòa giả định" tại trường học hay các chương trình tuyên truyền lưu động kết hợp khám chữa bệnh miễn phí tại các xã biên giới (như xã Ia Mơ) đã trực tiếp giải quyết trúng những vướng mắc mà bà con đang đối mặt. Nói cách khác, hiệu quả tuyên truyền không nên chỉ được đánh giá bằng số buổi tổ chức, mà là khả năng vận dụng kiến thức pháp luật của người dân trong các tình huống thực tế.
Không để khoảng cách địa lý trở thành khoảng cách pháp luật

Đưa pháp luật đến gần người dân cần bảo đảm người dân có thể hiểu, tiếp cận sự hướng dẫn cần thiết, biết nơi tìm kiếm hỗ trợ khi phát sinh vấn đề pháp lý - Ảnh: Nam Sơn
Một trong những yêu cầu quan trọng là lựa chọn hình thức truyền thông phù hợp. Hội nghị trực tiếp vẫn cần thiết, nhưng không phải lúc nào cũng là phương thức tối ưu đối với địa bàn dân cư phân tán.
Trong bối cảnh đó, không gian số đang trở thành cầu nối xóa nhòa khoảng cách. Điển hình như Gia Lai hiện đang đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ số hóa 70% tài liệu và thực hiện 50% hoạt động phổ biến pháp luật cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên nền tảng số. Sự kết hợp giữa công nghệ với hệ thống truyền thanh cơ sở và tài liệu tiếng bản địa giúp bà con tiếp cận pháp luật linh hoạt mọi lúc, mọi nơi.
Đáng chú ý, báo cáo của Bộ Tư pháp cũng chỉ ra một vướng mắc: Luật hiện hành chưa có chính sách ưu tiên cụ thể cho các nhóm đối tượng đặc thù; năng lực chuyên môn và kiến thức pháp luật của một bộ phận cán bộ cấp cơ sở còn hạn chế. Để giải bài toán này, việc đảm bảo nguồn lực cho đội ngũ "chân rết" là yếu tố then chốt. Trở lại với câu chuyện của Gia Lai, việc địa phương mạnh dạn bố trí ngân sách, hỗ trợ thù lao thiết thực cho hòa giải viên ở cơ sở (ví dụ mức 400.000 đồng cho một vụ việc hòa giải thành) hay chi hỗ trợ duy trì sinh hoạt của các Câu lạc bộ pháp luật, nhóm nòng cốt là một bước đi mang tính đột phá. Cán bộ, già làng, trưởng bản khi được bồi dưỡng kiến thức và đảm bảo nguồn lực sẽ trở thành những "cánh tay nối dài" đắc lực đưa chính sách đi sâu vào từng buôn làng.
Cùng với việc đổi mới nội dung, cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tư pháp, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư. Đưa pháp luật đến gần người dân không đơn thuần là đưa thông tin đến tận thôn, bản. Đó còn là bảo đảm người dân có thể hiểu, tiếp cận sự hướng dẫn cần thiết và biết nơi tìm kiếm hỗ trợ khi phát sinh vấn đề pháp lý.
Khi pháp luật trở thành "công cụ" tự thân có thể vận dụng trong đời sống, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật mới thực sự góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đồng bào, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tại cơ sở.

