Dưới gốc chè 300 năm tuổi, nghe kể chuyện làm thương hiệu
Dưới tán chè Shan tuyết 300 năm tuổi, câu chuyện làm thương hiệu không chỉ bắt đầu từ búp trà, mà từ cách người vùng cao gìn giữ, đánh thức giá trị đại ngàn.
“Của để dành” qua từng thế hệ
Từ trung tâm xã Sín Chải (tỉnh Điện Biên) đến thôn Hấu Chua - nơi quần thể chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi được công nhận là Cây di sản Việt Nam năm 2022 chỉ vỏn vẹn khoảng 10 km, nhưng mất gần 45 phút di chuyển. Con đường độc đạo quanh co, sóng điện thoại chập chờn, định vị gần như vô hiệu. Suốt hành trình, chúng tôi phải dừng xe nhiều lần để hỏi đường; bà con dân tộc chỉ dẫn bằng vài câu tiếng Kinh bập bõm: “thẳng, thẳng”, “đúng, đúng”, kèm theo những cái chỉ tay về phía núi.
Vượt qua quãng đường hiểm trở, Hấu Chua hiện ra với những gốc chè cổ thụ sừng sững giữa núi rừng. Đón chúng tôi là anh Hạng A Nhè (sinh năm 1990) - người đời thứ ba trong gia đình gắn bó với những “cụ chè”. Anh cho biết, gia đình hiện sở hữu khoảng 650 cây chè Shan tuyết cổ thụ cùng hàng ngàn cây chè anh-em, những cây con mới trồng. Trong số những cây cổ thụ, nhiều cây đã sống gần ba thế kỷ, thân to đến hai người ôm không xuể.
Ở nơi mà đất đá nhiều hơn đất canh tác, nơi gió hun khô cả những triền đồi, “đại gia” không được đo bằng nhà cao cửa rộng. Ở Hấu Chua, “đại gia” là người giữ được nhiều cây chè cổ thụ nhất, người biết cách đánh thức giá trị từ những thân cây già nua tưởng chừng chỉ thuộc về ký ức.

Tháng 9/2022, Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã công nhận quần thể 100 cây chè Shan tuyết cổ thụ tại thôn Sín Chải và Hấu Chua (thuộc huyện Tủa Chùa cũ) là Cây di sản Việt Nam.

Những “cụ chè” đứng rải rác, sừng sững, hiên ngang trên triền núi đá, bám rễ vào khe đất, hứng sương, hút gió và lớn lên theo cách tự nhiên, hoang dã mà bền bỉ.
Anh Hạng A Nhè không nhớ chính xác mình gắn bó với cây chè từ khi nào. Chỉ biết, những gốc chè cổ thụ đã in sâu vào ký ức tuổi thơ, nơi ngày nào anh cũng leo trèo mỗi ngày, nơi người lớn cần mẫn hái từng búp non mang về sao khô và cũng là nơi những câu chuyện về “cây tổ” được truyền lại như một niềm tự hào của cả dòng họ.
“Có cây gần 300 năm tuổi rồi đấy”, anh Nhè vừa nói, vừa đặt tay lên thân cây to hơn một vòng ôm. Theo hồ sơ kiểm đếm, có cây đã 291 năm tuổi. Thân xù xì, đường kính có cây lên tới 90cm, vươn cao 10 - 14 mét, tán lá xòe rộng như chiếc ô xanh khổng lồ giữa đại ngàn.
Ở Hấu Chua, chè Shan tuyết không mọc thành nương, thành luống như miền xuôi. Những “cụ chè” đứng rải rác, sừng sững, hiên ngang trên triền núi đá, bám rễ vào khe đất, hứng sương, hút gió và lớn lên theo cách tự nhiên, hoang dã mà bền bỉ.
Toàn xã hiện có gần 8.000 cây chè cổ thụ, thuộc sở hữu của gần 300 hộ dân. Ở đây, mỗi cây chè không chỉ là tài sản, mà còn là “của để dành” được trao truyền qua nhiều thế hệ. Ông Hạng A Chư - bố của anh Nhè cho biết, cây chè đã gắn bó với đời sống của nhiều gia đình, nhiều dòng họ ở Hấu Chua. Nhờ cây chè, đời sống của người dân từng bước cải thiện, cái nghèo dần lùi lại phía sau.
Với đồng bào Mông nơi đây, chè Shan tuyết được xem như món quà quý mà thiên nhiên ban tặng. “Nhờ cây chè, nhiều gia đình nuôi được con ăn học, mua sắm đồ dùng, dựng nhà mới khang trang. Công nghệ chế biến, bảo quản chè cũng được đầu tư, bài bản hơn. Cây chè là tài sản cha ông để lại, phải giữ gìn cho con cháu sau này”, anh Nhè chia sẻ.

Khi thu hoạch chè, bà con chỉ hái trong khoảng từ 7 giờ đến 10 giờ sáng, muộn nhất là 11 giờ, khi sương vừa tan, búp chè đạt độ “chín” tự nhiên.
Không phải ngẫu nhiên chè Shan tuyết trở thành thương hiệu của núi rừng. Đằng sau thương hiệu đặc trưng ấy là một quy luật khắt khe của tự nhiên và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ. Những búp chè nơi đây thấm đẫm gió lạnh vùng cao, hứng trọn sương sớm nên việc thu hái cũng phải đúng thời điểm. Bà con chỉ hái trong khoảng từ 7 giờ đến 10 giờ sáng, muộn nhất là 11 giờ, khi sương vừa tan, búp chè đạt độ “chín” tự nhiên. Khâu sao chè cũng đòi hỏi sự chuẩn xác, chảo phải đủ nóng, nhiệt độ xấp xỉ 100 độ C, lửa giữ đều để không làm mất hương vị nguyên bản.
Khác với chè trồng ở vùng thấp, việc thu hái chè Shan tuyết cổ thụ không đơn giản. Người hái phải dựng thang, leo lên những thân cây cao, lựa từng búp chè giữa tán lá rộng. Mọi công đoạn đều được thực hiện bằng tay (thủ công). Những người hái chè bằng tay chỉ chọn búp đạt chuẩn “một tôm, hai đến ba lá non” để đảm bảo chất lượng nguyên liệu. Trong khâu chế biến, từng công đoạn đều được kiểm soát chặt chẽ, từ nhiệt độ đến thời gian, nhằm giữ trọn hương vị đặc trưng của chè Shan tuyết Tủa Chùa.
Chè Shan tuyết Hấu Chua khi pha có màu nước trong, ánh xanh vàng, sánh nhẹ, không chát gắt. Vị chè mở đầu dịu nhẹ, lan chậm, rồi đọng lại nơi cuống họng bằng hậu ngọt sâu và kéo dài. Những người sành chè cho rằng, chính vị hậu ngọt không thứ gì có thể làm giả được. “Uống đến nước thứ bảy vẫn còn ngọt”, anh Hạng A Nhè nói như một điều hiển nhiên đối với người gắn bó cả đời với cây chè.
Để giữ được trọn vẹn hương vị đó, người dân Hấu Chua vẫn kiên trì với phương thức sản xuất truyền thống. Chè được hái thủ công, chọn lọc kỹ lưỡng, sau đó sao bằng chảo gang trên bếp củi. Không dây chuyền hiện đại, không máy móc hỗ trợ, nhưng chính sự thủ công ấy đã làm nên bản sắc riêng của chè Shan tuyết nơi đây.
Khi mỗi gốc chè có “căn cước số”
Tháng 9/2022, Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã công nhận quần thể 100 cây chè Shan tuyết cổ thụ tại thôn Sín Chải và Hấu Chua (thuộc huyện Tủa Chùa cũ) là Cây di sản Việt Nam theo Quyết định số 233/QĐ-HMTg.
Đến tháng 11/2025, Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 702/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00149 cho sản phẩm chè xanh Shan tuyết và chè Phổ nhĩ sống Shan tuyết “Tủa Chùa”. Để có được kết quả này, năm 2024, huyện Tủa Chùa cũ đã tổ chức gắn mã QR truy xuất nguồn gốc các cây chè cổ thụ.

Mỗi gốc chè cổ thụ tại Hấu Chua được gắn trên mình một mã QR với đủ thông tin.

Chè Shan tuyết Tủa Chùa từng bước được “số hóa” toàn diện, tạo ra sự minh bạch trong truy xuất nguồn gốc và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Khi truy cập vào mã QR gắn ở từng gốc cây, cơ quan chức năng, người dân, du khách có thể cập nhật thông tin về tuổi cây, tình trạng sinh trưởng, sản lượng thu hái theo từng vụ. Những dữ liệu này không chỉ phục vụ quản lý nội bộ mà còn tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Khi sản phẩm chè được đưa ra thị trường, người tiêu dùng có thể dễ dàng kiểm tra thông tin, biết rõ xuất xứ, quy trình chăm sóc, từ đó tăng niềm tin và giá trị hàng hóa.
Ví dụ như, với cây chè mã QR số 76, khi truy cập, du khách sẽ nhận biết được các thông tin như: Chủ hộ Hạng A Chư, 292 năm tuổi; chu vi gốc 190cm; đường kính tán cây 4m; đường kính gốc 60,5cm; môi trường sống: ở độ cao 1400m nhiệt độ từ 6-25 độ C, độ ẩm từ 55%-85%; tiêu chuẩn: đã được chứng nhận hữu cơ, tiêu chuẩn châu Âu - Organic EU.
Qua các thông tin được cung cấp qua từng mã QR, giúp cơ quan chức năng, người dân áp dụng quy trình canh tác và đầu tư chăm sóc theo chiều sâu; xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao, hữu cơ; thực hiện tiêu chuẩn mới trong sản xuất, đảm bảo sản phẩm chè vừa an toàn, vừa chất lượng, giữ vững thương hiệu chè Shan tuyết.
Với nỗ lực số hóa cây chè, tháng 8/2025, UBND tỉnh phê duyệt bản đồ vùng chỉ dẫn địa lý “Tủa Chùa” cho sản phẩm chè Shan tuyết. Cục Sở hữu trí tuệ ban hành quyết định về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm chè xanh Shan tuyết Tủa Chùa. Đây được xem như “tấm hộ chiếu” cho sản phẩm chè Shan tuyết Tủa Chùa. Từ một sản phẩm bản địa, chè Shan tuyết Tủa Chùa từng bước được “số hóa” toàn diện, tạo ra sự minh bạch trong truy xuất nguồn gốc và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Giải bài toán cho thương hiệu chè Shan tuyết
“Hộ chiếu” cho đã có, song bài toán đặt ra là đầu ra cho sản phẩm. Để đi xa hơn, câu chuyện không dừng lại ở sản lượng. Điều quan trọng là xây dựng thương hiệu. Mỗi sản phẩm chỉ thực sự có giá trị xuất khẩu khi nó mang trong mình những câu chuyện. Câu chuyện về vùng đất, về con người, về quá trình canh tác, về những câu chuyện hàng trăm năm tuổi trải qua bao thăng trầm mà lá vẫn xanh.
Trên thực tế, trong hành trình xuất khẩu, xây dựng thương hiệu Việt Nam tại thị trường quốc tế, các chuyên gia, doanh nghiệp xuất khẩu thậm chí là các Bộ, ngành đã không ít lần nhắc đến việc xây dựng thương hiệu sản phẩm gắn với câu chuyện.
Pakistan là một trong những thị trường nhập khẩu chè lớn của Việt Nam, song để duy trì thị phần tại đây, đã nhiều lần Bộ Công Thương khuyến nghị doanh nghiệp xuất khẩu chú trọng hơn đến việc xây dựng thương hiệu sản phẩm chè. Bởi, nhà nhập khẩu họ không chỉ mua sản phẩm mà còn họ mua “câu chuyện”.
“Mỗi sản phẩm chè xuất khẩu được gắn tiêu chuẩn hữu cơ, đảm bảo chất lượng; rõ ràng, minh bạch quy trình chăm sóc, thu hái... sẽ có giá trị gấp nhiều lần sản phẩm tương tự không có chứng nhận”, Bộ Công Thương ví dụ thực tế và khuyến nghị, doanh nghiệp Việt Nam cần biết kể “câu chuyện xanh” bằng ngôn ngữ mà thị trường nhập khẩu muốn nghe, đó là minh bạch, trách nhiệm và nhân văn.


Những gốc chè cổ thụ mục ruỗng, rêu phong qua gần 3 thế kỷ.
Tương tự, tại Pháp, ông Vũ Anh Sơn, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại đây cũng nhiều lần khuyến nghị doanh nghiệp xuất khẩu trong nước chú trọng ưu tiên đến việc xây dựng thương hiệu hàng Việt Nam tại Pháp.
Theo ông Sơn, nhiệm vụ xúc tiến thương mại, đưa hàng hóa, thương hiệu Việt Nam ra nước ngoài giờ đây không dừng lại ở bài toán của sản lượng hay giá cả, mà là cuộc chiến định vị thương hiệu quốc gia và thiết lập sự hiện diện bền vững trong hệ thống phân phối hiện đại.
Pháp là thị trường có hệ thống bán lẻ hiện đại chi phối gần như toàn bộ hành vi tiêu dùng. Tại đây, để được lên kệ, bày bán trong hệ thống siêu thị lớn tại Pháp, hàng hóa phải vượt qua các bộ lọc khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, bao bì, câu chuyện thương hiệu và đặc biệt là khả năng duy trì cung ứng ổn định.
“Trong bối cảnh người tiêu dùng châu Âu ngày càng quan tâm đến nguồn gốc và giá trị văn hóa, sản phẩm không chỉ được bán, mà được “kể chuyện”. Đây là lợi thế khác biệt để hàng Việt Nam trụ vững và hiện diện nhiều hơn tại Pháp”, ông Vũ Anh Sơn nhận định.
Trên thực tế, thương hiệu ngành hàng thực chất là một quá trình “đi từ gốc đến ngọn”. Từ định danh rõ sản phẩm là gì, đến từ đâu, tiêu chuẩn ra sao, tổ chức sản xuất như thế nào... và cuối cùng mới là kể câu chuyện với thị trường xuất khẩu. Kết nối sản xuất với thị trường, biến tiêu chuẩn thành câu chuyện. Biến sản phẩm thành định vị và biến giá trị thành niềm tin. Chính vì vậy, thương hiệu không phải là “việc của cuối chuỗi”, mà là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị.
Nếu làm tốt những điều kể trên, chè Shan tuyết tại Hấu Chua hoàn toàn có thể bước ra thị trường quốc tế, không chỉ là một thức uống thông thường mà như một biểu tượng của văn hóa và thiên nhiên Việt Nam.
Khi truy cập vào mã QR gắn ở từng gốc cây chè Shan tuyết cổ thụ, cơ quan chức năng, người dân, du khách có thể cập nhật thông tin về tuổi cây, tình trạng sinh trưởng, sản lượng thu hái theo từng vụ. Những dữ liệu này không chỉ phục vụ quản lý nội bộ mà còn tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Khi sản phẩm chè được đưa ra thị trường, người tiêu dùng có thể dễ dàng kiểm tra thông tin, biết rõ xuất xứ, quy trình chăm sóc, từ đó tăng niềm tin và giá trị hàng hóa.











