Giải phóng thị xã Tam Kỳ - Mũi đột phá chiến lược tiến lên giải phóng Đà Nẵng

Cuộc tiến công và nổi dậy giải phóng thị xã Tam Kỳ ngày 24/3/1975 không chỉ là thành quả của một chiến lược đầy quyết đoán, tinh thần quân - dân một lòng, mà còn mở ra bước ngoặt mới cho cục diện chiến trường. Đó là quốc lộ 1A bị cắt, chia tách hoàn toàn lực lượng chủ lực của địch ở 2 căn cứ Chu Lai và Đà Nẵng, tạo thế và lực giải phóng Đà Nẵng vào ngày 29/3/1975.

Quân - dân một lòng

Những ngày tháng Ba, hình ảnh về ngày giải phóng thị xã Tam Kỳ lại sống dậy đầy xúc động trong ký ức của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Chí Thành, nguyên Bí thư Thị ủy Tam Kỳ. Một thành quả cách mạng của quân và dân thị xã được hun đúc qua rất nhiều năm hoạt động trong lòng địch.

Ông Thành kể lại, sau khi đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai phá bỏ Hiệp định Geneva, tràn vào chiếm đóng Tam Kỳ, đã sử dụng lực lượng Quốc dân đảng nằm vùng đánh phá, với mục tiêu cắt đứt mối liên hệ giữa nhân dân với cách mạng.

Sau đó, chúng chia tỉnh Quảng Nam (cũ) thành 2 tỉnh là Quảng Nam và Quảng Tín. Tam Kỳ - tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Tín - được chia thành quận Tam Kỳ và quận Lý Tín, với sông Tam Kỳ là ranh giới.

Ông Trần Chí Thành (hàng đầu, thứ 3 bên phải sang) trong Đội công tác thị xã Tam Kỳ. Ảnh: Tư liệu

Ông Trần Chí Thành (hàng đầu, thứ 3 bên phải sang) trong Đội công tác thị xã Tam Kỳ. Ảnh: Tư liệu

Thời điểm ấy, Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng (tháng 1/1959) với chủ trương tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước bằng con đường đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, lập tức đưa phong trào cách mạng ở Tam Kỳ vực dậy mạnh mẽ.

Tháng 3/1963, Tỉnh ủy Quảng Nam (cũ) quyết định chia huyện Tam Kỳ thành 3 đơn vị hành chính, gồm: huyện Nam Tam Kỳ, huyện Bắc Tam Kỳ và thị xã Tam Kỳ để thuận lợi trong công tác điều hành, chỉ đạo kháng chiến.

Thị xã Tam Kỳ (nay là các phường Tam Kỳ, Hương Trà, Bàn Thạch) có nhiệm vụ tuyên truyền phát động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng. Qua đó tăng cường thực lực cách mạng trong nhân dân, tạo tiền đề tổ chức đánh sâu vào cơ quan đầu não của kẻ thù, phá thế bao vây kìm kẹp, đưa quần chúng nổi dậy giành chính quyền, tiến tới tổng khởi nghĩa.

Được giao nhiệm vụ xây dựng phong trào cách mạng trên một vùng trọng điểm, Đảng bộ, quân và dân thị xã Tam Kỳ tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng đã được tôi luyện qua chiều dài lịch sử, nắm vững chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng, vận dụng linh hoạt phương châm “Hai chân, ba mũi giáp công”. Đồng thời dựa vào dân để xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, tạo thế và lực cho cách mạng. Từ đây, mạng lưới cơ sở được củng cố, kiện toàn, mở rộng và phát triển vững chắc.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Chí Thành, nguyên Bí thư Thị ủy Tam Kỳ

Tại Hương Trà (nay thuộc phường Hương Trà), Chi bộ Đồng được củng cố, làm nòng cốt phát triển thêm nhiều cơ sở mới dọc tuyến quốc lộ 1A. Đây là chi bộ được thành lập từ năm 1954, có lúc lên tới hàng chục đảng viên bí mật hoạt động liên tục cho đến ngày giải phóng năm 1975.

Đáng chú ý, được sự chỉ đạo bí mật của Chi bộ Đồng, một số gia đình đảng viên và quần chúng cách mạng tích cực nuôi giấu để các cán bộ lãnh đạo Thị ủy, Đội công tác thị xã thâm nhập nội ô, trụ lại hoạt động dài ngày; lựa chọn một số cơ sở cốt cán cắm vào bộ máy chính quyền và lực lượng nghĩa quân của địch.

Di tích lịch sử cách mạng Chi bộ Đồng trong khuôn viên Trường Tiểu học Lê Thị Hồng Gấm, phường Hương Trà. Ảnh: HỒ QUÂN

Di tích lịch sử cách mạng Chi bộ Đồng trong khuôn viên Trường Tiểu học Lê Thị Hồng Gấm, phường Hương Trà. Ảnh: HỒ QUÂN

Tại Kỳ Hương - trung tâm tỉnh lỵ Quảng Tín (nay là phường Bàn Thạch), Thị ủy Tam Kỳ nhanh chóng thành lập mới chi bộ hợp pháp, phát triển lực lượng mới, cài cắm một số cơ sở nòng cốt vào bộ máy chính quyền địch.

Có lúc, ở đây xây dựng được 2 chi bộ hoạt động độc lập trong bộ máy Hội đồng xã và Trung đội nghĩa quân của địch, với hàng chục đảng viên. Tiêu biểu như Chi bộ Khu B do ông Trần Chí Thành làm Bí thư, với 7 đảng viên, mỗi đảng viên mang mật danh: Thà - Hy - Sinh - Quyết - Tâm - Thắng - Mỹ, thể hiện lời thề quyết tâm đánh giặc.

Ngoài ra, ở Trường Xuân Tây, xóm Cát (các địa danh thuộc phường Tam Kỳ ngày nay) kết nối được với hành lang Thọ Tân, Đồng Siêm, Bình Hòa, Ngọc Bích (các địa danh thuộc phường Hương Trà ngày nay), tạo đường dây liên lạc thông suốt từ bên trong nội thị với căn cứ Thị ủy (đóng tại Kỳ Trà, Kỳ Quế - nay là xã Đức Phú và xã Phú Ninh).

Ở khu vực nội ô, thị xã đã phát triển được nhiều cơ sở trong các tổ chức nghiệp đoàn lao động, thợ thuyền, các tầng lớp thương gia, tiểu thương, người Hoa, các tổ chức tôn giáo, học sinh, sinh viên... Từ phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân đã cổ vũ hàng trăm thanh niên thị xã vượt qua vòng kiểm soát của địch để tìm đến cách mạng.

Nhờ có cơ sở cách mạng vững chắc, Thị ủy đã phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn của địch và nắm bắt tình hình địch để phục vụ cho các nhiệm vụ, như đưa đón cán bộ vào nội ô; dẫn đường, ém quân chờ cơ hội tiến công tiêu diệt địch. Đặc biệt, qua những nguồn tin cơ mật giúp Thị ủy chuẩn bị, bố trí lực lượng đối phó những cuộc càn quét của địch vào vùng giải phóng, vùng căn cứ cách mạng. Đồng thời tạo thực lực bên trong lẫn bên ngoài để thực hiện các cuộc đấu tranh, điển hình như Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) và Cuộc tiến công và nổi dậy giải phóng thị xã Tam Kỳ (24/3/1975).

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Chí Thành, nguyên Bí thư Thị ủy Tam Kỳ

Chiến dịch vang dội

Thời điểm giải phóng thị xã Tam Kỳ, ông Trần Ngọc Yến, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 5, đang giữ chức vụ Tham mưu trưởng Trung đoàn 1 - đơn vị chủ lực được giao nhiệm vụ giải phóng thị xã Tam Kỳ.

Theo ông Yến, chọn Tam Kỳ để giải phóng là chiến lược được hoạch định rất rõ. Lý do là Tam Kỳ đã cọ xát với địch trong một thời gian rất dài nên cơ sở cách mạng đã vững chắc. Giải phóng được Tam Kỳ, khi quân chủ lực rút đi thì lực lượng tại chỗ vẫn giữ được thành quả cách mạng.

Ý nghĩa quan trọng của chiến dịch là đánh Tam Kỳ sẽ cắt được đường 1 (quốc lộ 1A), tách biệt 2 căn cứ chủ lực của địch là Chu Lai (nay là xã Núi Thành) và Đà Nẵng (nay là trung tâm thành phố), tạo tiền đề để Sư đoàn 2 cùng các lực lượng giải phóng Đà Nẵng vào ngày 29/3/1975. Đồng thời, lúc này nếu bộ đội chủ lực nổ súng, đánh vào căn cứ Chu Lai thì không có lực lượng nào của địch tiếp viện. Bởi lực lượng chủ lực của địch ở Đà Nẵng không vào được, còn các đồn trú ở Quảng Ngãi, Bình Định lực lượng mỏng, tất yếu sẽ toàn thắng.

Ông Trần Ngọc Yến, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 5

Ban Chỉ huy chiến dịch giải phóng thị xã Tam Kỳ do Bí thư Thị ủy Trần Chí Thành làm Chỉ huy trưởng. Ông Thành nhớ lại, cơ sở cách mạng vững chắc giúp Ban Chỉ huy chiến dịch thị xã cung cấp đầy đủ cho Trung đoàn 1 bản đồ phòng thủ của địch tại thị xã, tình hình biến động của quân địch mỗi ngày.

Đồng thời tổ chức các đội vũ trang tuyên truyền bám trụ bên trong lòng địch, thực hiện nhiệm vụ hình thành các tổ chức nổi dậy làm cho địch hoang mang, dao động; hình thành đội du kích ở từng khu phố; chuẩn bị cờ, băng rôn và phương tiện khởi nghĩa. Nhờ đó, đã hình thành phương án phối hợp tác chiến giữa Trung đoàn 1 và thị xã.

Công sự mật trong lòng địch ở thị xã Tam Kỳ trong những năm kháng chiến. Ảnh: Tư liệu

Công sự mật trong lòng địch ở thị xã Tam Kỳ trong những năm kháng chiến. Ảnh: Tư liệu

Phương án tác chiến mà ông Trần Chí Thành đưa ra là “nở hoa trong lòng địch”, tức là lót đơn vị sau lưng Tỉnh đường Quảng Tín. Đây là phương án mạo hiểm, song thị xã Tam Kỳ rất có niềm tin nhờ kinh nghiệm tích lũy trong Chiến dịch Tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968.

Đáng chú ý, Ban Chỉ huy chiến dịch thị xã đã chọn cán bộ đội vũ trang tuyên truyền và trinh sát có kinh nghiệm dẫn đường, đưa bộ đội chủ lực tiếp cận thị xã theo 3 mũi tiến công mà Trung đoàn 1 đã ấn định.

Theo đó, mũi 1 giao cho Tiểu đoàn 90 thọc sâu lót ở sau Tỉnh đường Quảng Tín, là mũi quyết định thắng lợi của chiến dịch. Mũi 2 giao cho Tiểu đoàn 60, gồm xe tăng và bộ binh, xuất kích xuống phía tây sân bay Ngọc Bích (cầu Bà Ngôn, xã Phú Ninh ngày nay) đánh chiếm Tỉnh đường Quảng Tín.

Mũi 3 giao cho Tiểu đoàn 40, gồm xe tăng và bộ binh, xuất kích từ Kỳ Bích xuống Kỳ Hưng (các địa danh thuộc xã Tam Xuân ngày nay) chiếm cầu Tam Kỳ, sau đó đánh thẳng theo đường quốc lộ chiếm ngã ba Nam Ngãi (nay là phường Tam Kỳ). Trường hợp nếu cầu Tam Kỳ bị địch đánh sập thì chuyển xe và quân đi qua bến Cửu Kiều (nay là phường Hương Trà) để vào thị xã.

Quân giải phóng tiến vào thị xã Tam Kỳ ngày 24/3/1975. Ảnh: Tư liệu

Quân giải phóng tiến vào thị xã Tam Kỳ ngày 24/3/1975. Ảnh: Tư liệu

Sáng ngày 23/3/1975 tại thôn 1, xã Kỳ Quế làm lễ xuất quân. Đến 5 giờ 15 phút ngày 24/3/1975, trận tiến công vào thị xã Tam Kỳ bắt đầu. Chỉ trong vòng 5 giờ đồng hồ, các mũi tiến công đã áp chế, đánh chiếm các căn cứ quân sự trọng yếu của địch.

Lúc này, Tiểu đoàn 90 đánh chiếm trung đoàn bộ Trung đoàn 6 và bãi xe tăng, trận địa pháo 105 của địch ở đường Huỳnh Thúc Kháng (nay là phường Tam Kỳ). Tiểu đoàn và 3 xe tăng tiến đánh thẳng vào Tỉnh đường Quảng Tín. Còn Tiểu đoàn 40 cùng 4 xe tăng đánh chiếm cầu Tam Kỳ, đánh ra chốt tại ngã ba Nam Ngãi. Quân giải phóng đến đâu, nhân dân vui mừng chào đón, cờ hoa tung bay khắp các đường phố.

Cán bộ, chiến sĩ thị xã Tam Kỳ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ xúc động mỗi lần hội ngộ. Ảnh: HỒ QUÂN

Cán bộ, chiến sĩ thị xã Tam Kỳ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ xúc động mỗi lần hội ngộ. Ảnh: HỒ QUÂN

Đến 10 giờ 30 phút ngày 24/3/1975, quân ta chiếm Tỉnh đường Quảng Tín, cờ Mặt trận tung bay trên nóc nhà Tỉnh đường, đánh dấu chiến dịch toàn thắng.

“Đó là thời khắc lịch sử 21 năm bền bỉ chiến đấu của quân và dân thị xã Tam Kỳ. Chúng ta đã đập tan toàn bộ hệ thống ngụy quân, ngụy quyền của tỉnh Quảng Tín. Hàng ngàn tên địch tan rã, bỏ vũ khí tháo chạy. Ta thu hàng ngàn vũ khí, có 12 khẩu pháo 105 li; hàng trăm xe quân sự, trong đó có 22 chiếc xe tăng và xe bọc thép; nhiều quân trang, quân dụng và tài liệu quan trọng. Cơ sở, tài sản và nhân dân không bị hư hại.

Quần chúng phấn khởi, hân hoan đón đoàn quân giải phóng với tình thương nhớ và tự hào. Anh em trong nhà lao được giải phóng, tay bắt mặt mừng trong giờ phút thiêng liêng nhất”, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Chí Thành nhớ lại.

Theo ông Trần Ngọc Yến, có rất nhiều yếu tố then chốt để giải phóng thị xã Tam Kỳ. Đó là quân địch chủ quan, là tình quân - dân đồng lòng, và là chiến dịch được giữ bí mật đến ngày toàn thắng. Ngoài ra, trong trận đánh này, lần đầu tiên xe tăng và bộ đội chủ lực đánh thẳng vào trung tâm tỉnh lỵ Quảng Tín, trở thành “cú đấm” đủ mạnh để đẩy lùi quân địch.

Trong cuốn kỷ yếu “Một thời để nhớ của cán bộ, chiến sĩ thị xã Tam Kỳ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1963 - 1975”, đã nhắc rất nhiều đến chiến công của lực lượng vũ trang thị xã.

Tiền thân của lực lượng vũ trang thị xã Tam Kỳ là Đội du kích Vũ Hùng, ra đời vào ngày 4/5/1945 tại xã Xuân Quang (nay là xã Núi Thành). Năm 1963, ngay sau khi thành lập đơn vị hành chính cấp huyện là thị xã Tam Kỳ, Ban Chỉ huy Quân sự thị xã ra đời, mang mật danh Đội 75A. Trong 2 năm (từ 1963 - 1965), với phương châm “lấy ít địch nhiều, luồn sâu đánh hiểm”, đơn vị đã đánh 34 trận, trong đó có nhiều trận thọc sâu vào trung tâm đầu não, làm tiêu hao sinh lực địch, tạo thế cho phong trào quần chúng.

Ngày 19/7/1965, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam (cũ) quyết định thành lập Đại đội đặc công, đổi tên 75A thành V18, với hơn 100 cán bộ, chiến sĩ. Dù đối đầu với quân đội Mỹ, ngụy với quân số áp đảo, phương tiện chiến đấu hiện đại, song Đại đội V18 vẫn bám sát địa bàn, dùng mưu trí đánh vào sơ hở của địch trên nhiều mặt trận.

Ban liên lạc cán bộ, chiến sĩ thị xã Tam Kỳ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1963 - 1975 đã thống kê, chỉ riêng giai đoạn 1968 - 1970, Đại đội V18 phối hợp và độc lập tác chiến 248 trận lớn nhỏ. Giai đoạn 1971 - 1974, đơn vị tiếp tục đánh 81 trận lớn nhỏ, buộc địch rơi vào thế bị động, lúng túng tìm cách đối phó ngay tại hậu cứ.

Trong chiến dịch giải phóng thị xã Tam Kỳ, Đại đội V18 được giao 2 nhiệm vụ là phối hợp với các đội công tác dẫn đường cho Trung đoàn 1 và phối hợp với bộ đội chủ lực đánh chiếm các mục tiêu quan trọng. Không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, Đại đội còn trở thành lực lượng quan trọng trong những ngày tiếp quản vùng giải phóng, ổn định nhân dân.

Tính từ khi mang mật danh 75A và đến khi trưởng thành với tên gọi Đại đội V18, đơn vị đánh hơn 409 trận lớn nhỏ, tiêu diệt và làm bị thương hơn 1.505 tên địch, bắn cháy 3 máy bay, 17 xe tăng, xe bọc thép…

Sau ngày giải phóng, Đại đội V18 được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

[VIDEO] - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Chí Thành, nguyên Bí thư Thị ủy Tam Kỳ kể lại chiến dịch giải phóng thị xã Tam Kỳ ngày 24/3/1975:

* Bài viết có sử dụng một số tư liệu từ kỷ yếu “Một thời để nhớ của cán bộ, chiến sĩ thị xã Tam Kỳ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1963 - 1975", xuất bản vào tháng 3/2025.

HỒ QUÂN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/giai-phong-thi-xa-tam-ky-mui-dot-pha-chien-luoc-tien-len-giai-phong-da-nang-3329763.html