Giám sát ngân sách cấp tỉnh theo quản trị tài chính công hiện đại Bài 1: Bảo đảm công bằng cơ hội, phát triển bao trùm

Một yêu cầu quan trọng đặt ra với giám sát ngân sách cấp tỉnh theo quản trị tài chính công hiện đại là gắn với mục tiêu giảm bất bình đẳng và phát triển bao trùm; đây là nội dung then chốt nhằm chuyển giám sát ngân sách từ tiếp cận kiểm tra tính hợp pháp sang đánh giá và điều chỉnh phân bổ nguồn lực theo hướng bảo đảm công bằng cơ hội và phát triển bao trùm.

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, ngân sách nhà nước (NSNN) tiếp tục giữ vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô chủ yếu, đồng thời là phương tiện quan trọng để thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội và phát triển bao trùm. Tuy nhiên, yêu cầu đối với giám sát NSNN ở cấp địa phương đã thay đổi đáng kể: từ kiểm tra tính tuân thủ sang đánh giá hiệu quả phân bổ, minh bạch và tác động xã hội của chi tiêu công.

Cùng với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, quản trị tài chính công đang dịch chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình dựa trên dữ liệu, minh bạch và tương tác. Điều này đặt ra yêu cầu HĐND cấp tỉnh phải nâng cao năng lực giám sát, chuyển từ “giám sát hành chính” sang “giám sát chiến lược dựa trên dữ liệu và bằng chứng”.

Các đại biểu trao đổi tại Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng hoạt động đối với đại biểu HĐND các cấp tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2026 - 2031. Ảnh: Quang Tấn

Các đại biểu trao đổi tại Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng hoạt động đối với đại biểu HĐND các cấp tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2026 - 2031. Ảnh: Quang Tấn

Trên cơ sở đó, bài viết tập trung trả lời câu hỏi: giám sát NSNN cấp tỉnh cần được thiết kế như thế nào để vừa bảo đảm hiệu quả phân bổ nguồn lực, vừa thúc đẩy công bằng và minh bạch trong bối cảnh chuyển đổi số.

Dựa trên nền tảng các nguyên tắc quản trị tài chính công hiện đại

Trước hết, giám sát NSNN ở cấp tỉnh cần được thực hiện trên nền tảng các nguyên tắc của quản trị tài chính công hiện đại, bao gồm: tính tổng thể và kỷ luật tài khóa; tính linh hoạt và tính tiên liệu; tính thực tiễn và minh bạch gắn với trách nhiệm giải trình.

Trước hết, giám sát ngân sách hiệu quả đòi hỏi phải đặt trong bức tranh tài khóa tổng thể, thay vì chỉ xem xét dự toán ngân sách địa phương theo từng năm. Bức tranh này bao gồm toàn bộ các nguồn lực tài chính như: ngân sách trung ương bổ sung, các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vay và các quỹ tài chính ngoài ngân sách. Chỉ khi đánh giá đầy đủ các nguồn lực này, cơ quan giám sát mới có thể xác định đúng khả năng chịu đựng tài khóa và mức độ bền vững của ngân sách địa phương. Trong thực tiễn, áp lực đầu tư hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương dễ dẫn đến xu hướng mở rộng chi tiêu vượt quá khả năng cân đối, do đó vai trò giám sát nhằm bảo đảm kỷ luật tài khóa càng trở nên quan trọng.

Bên cạnh đó, tính linh hoạt và tính tiên liệu của ngân sách cần được xem xét thông qua khung chi tiêu trung hạn và khả năng ứng phó với các cú sốc kinh tế - xã hội. Giám sát không chỉ nhằm kiểm tra việc điều chỉnh ngân sách trong ngắn hạn mà còn phải đánh giá tính nhất quán của các ưu tiên chính sách trong trung và dài hạn.

Tính thực tiễn của ngân sách thể hiện ở khả năng triển khai trong điều kiện cụ thể của địa phương. Thực tế cho thấy, việc xây dựng dự toán thu - chi chưa sát thực tiễn có thể dẫn đến tình trạng hụt thu, gián đoạn đầu tư hoặc chậm triển khai các chính sách an sinh. Do đó, giám sát cần hướng đến việc đánh giá tính khả thi của dự toán và kịp thời điều chỉnh các sai lệch.

Cuối cùng, minh bạch và trách nhiệm giải trình là điều kiện cốt lõi để nâng cao chất lượng giám sát. Khi dữ liệu ngân sách được công khai theo chuẩn hóa và có thể truy cập, hoạt động giám sát không chỉ giới hạn trong cơ quan nhà nước mà còn mở rộng sang các chủ thể xã hội, qua đó tăng cường tính kiểm chứng và nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý.

Gắn với mục tiêu giảm bất bình đẳng

Đây là nội dung then chốt nhằm chuyển giám sát ngân sách từ tiếp cận kiểm tra tính hợp pháp sang đánh giá và điều chỉnh phân bổ nguồn lực theo hướng bảo đảm công bằng cơ hội và phát triển bao trùm.

Thực tiễn cho thấy, bất bình đẳng giữa các vùng, giữa khu vực đô thị và nông thôn, giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng thuận lợi là hiện tượng mang tính cấu trúc. NSNN là công cụ quan trọng để điều tiết và thu hẹp khoảng cách này, tuy nhiên hiệu quả phụ thuộc đáng kể vào chất lượng giám sát của HĐND.

Trong quá trình thẩm tra và quyết định dự toán, HĐND cần yêu cầu UBND thuyết minh rõ nguyên tắc phân bổ ngân sách, đặc biệt đối với chi đầu tư phát triển, như: căn cứ dân số, diện tích, tỷ lệ hộ nghèo, năng lực đóng góp ngân sách hoặc các chương trình mục tiêu quốc gia. Trên cơ sở đó, hoạt động giám sát cần đánh giá mức độ phù hợp của các nguyên tắc này, liệu có thực sự hướng đến các nhóm yếu thế hay vẫn có xu hướng tập trung vào các khu vực trung tâm.

Một hướng tiếp cận có thể nghiên cứu áp dụng là chỉ số công bằng trong chi tiêu công. Việc tính toán định kỳ chỉ số này giúp phát hiện các lệch pha trong phân bổ nguồn lực. Chẳng hạn, khi một địa phương miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao nhưng mức phân bổ đầu tư thấp hơn bình quân chung của tỉnh, cơ quan giám sát cần kịp thời chất vấn và yêu cầu điều chỉnh.

Đối với các địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số, việc giám sát ngân sách cần gắn chặt với khả năng tiếp cận các dịch vụ công cơ bản như: giáo dục, y tế, nước sạch và hạ tầng giao thông. Trong trường hợp ngân sách đã được bố trí nhưng công trình chậm tiến độ, chất lượng không bảo đảm hoặc không phù hợp điều kiện thực tế, HĐND cần yêu cầu điều chỉnh thiết kế, thay đổi chủ đầu tư hoặc rà soát lại cơ chế thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Vũ Tiến Anh - Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Gia Lai

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/giam-sat-ngan-sach-cap-tinh-theo-quan-tri-tai-chinh-cong-hien-dai-bai-1-bao-dam-cong-bang-co-hoi-phat-trien-bao-trum-10417778.html