Giữ rừng bằng trách nhiệm và động lực kinh tế
Cùng với nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, việc tạo sinh kế từ rừng và đẩy mạnh chuyển đổi số được kỳ vọng tạo chuyển biến thực chất cho ngành lâm nghiệp.
Muốn giữ rừng phải giúp người dân sống được nhờ rừng
Những chủ trương lớn của Đảng về tinh gọn bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh đang tạo ra không gian phát triển mới cho nhiều địa phương. Tuy nhiên, chia sẻ tại Hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý", ThS. Bùi Giang Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhận định, quá trình này cũng đặt ngành lâm nghiệp trước những thách thức chưa từng có.

Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) đang được mở rộng theo hướng không chỉ hỗ trợ bảo vệ rừng mà còn gắn với tạo sinh kế, phát triển thị trường tín chỉ carbon và thúc đẩy quản lý rừng bền vững. Ảnh minh họa
Áp lực phát triển hạ tầng, công nghiệp và dịch vụ ngày càng lớn khiến nhu cầu sử dụng đất gia tăng. Trong khi đó, việc sáp nhập các đơn vị hành chính, thay đổi địa giới quản lý và kiện toàn tổ chức bộ máy có thể tạo ra những “khoảng trống” nhất định trong công tác quản lý tài nguyên rừng nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Dẫn số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, ông Long cho biết, diện tích rừng do cấp xã quản lý đã giảm từ 3,422 triệu ha năm 2022 xuống còn khoảng 3,072 triệu ha vào năm 2025, giảm gần 350.000 ha. Theo ông Long, đây không phải là sự suy giảm tài nguyên rừng mà phản ánh kết quả tích cực của quá trình giao đất, giao rừng cho các chủ thể quản lý thực sự. Tuy nhiên, phần diện tích còn lại chủ yếu là rừng tự nhiên nghèo kiệt, rừng trên núi đá hoặc khu vực khó tiếp cận, khiến công tác quản lý và giao rừng tiếp tục đối mặt nhiều khó khăn.
Một điểm đáng chú ý được Kết luận số 61-KL/TW ngày 17/8/2023 nhấn mạnh là trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu. Theo đó, bảo vệ rừng không còn là nhiệm vụ riêng của ngành lâm nghiệp mà trở thành nhiệm vụ chính trị gắn với phát triển bền vững, an ninh sinh thái và an ninh quốc gia.
Trong mô hình quản lý mới, phạm vi quản lý của nhiều địa phương được mở rộng đáng kể. Điều này đồng nghĩa trách nhiệm của người đứng đầu đối với tài nguyên rừng cũng phải tăng lên tương ứng. “Nếu để xảy ra phá rừng, cháy rừng hay lấn chiếm đất lâm nghiệp, người đứng đầu địa phương phải là người đầu tiên chịu trách nhiệm”, ông Long nhấn mạnh.
Nhiều chuyên gia cho rằng tỷ lệ che phủ rừng, hiệu quả phòng cháy chữa cháy rừng và kiểm soát vi phạm lâm luật cần được nghiên cứu đưa vào hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của lãnh đạo các địa phương có diện tích rừng lớn.
Một trong những hạn chế được Kết luận số 61-KL/TW chỉ ra là chưa tạo được động lực kinh tế đủ mạnh để người dân gắn bó lâu dài với rừng. Thực tế cho thấy, phần lớn các vụ xâm hại rừng đều có nguyên nhân sâu xa từ áp lực sinh kế. Khi đời sống còn khó khăn, người dân dễ lựa chọn khai thác tài nguyên rừng để mưu sinh. Ngược lại, khi rừng tạo ra nguồn thu nhập ổn định, người dân sẽ trở thành lực lượng bảo vệ rừng hiệu quả nhất. Theo ThS. Bùi Giang Long, đây là lý do chính sách lâm nghiệp hiện nay đang chuyển mạnh từ tư duy “bảo vệ rừng bằng mệnh lệnh hành chính” sang “bảo vệ rừng bằng động lực kinh tế”.
Một trong những điểm sáng là cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) đang được mở rộng theo hướng không chỉ hỗ trợ bảo vệ rừng mà còn gắn với tạo sinh kế, phát triển thị trường tín chỉ carbon và thúc đẩy quản lý rừng bền vững. Bên cạnh đó, nhiều mô hình kinh tế dưới tán rừng đang cho thấy hiệu quả rõ nét như phát triển dược liệu, trồng sâm, ba kích, sa nhân tím, sản xuất lâm sản ngoài gỗ hay du lịch sinh thái.
Đặc biệt, thị trường carbon được đánh giá là dư địa phát triển mới của ngành lâm nghiệp. Khi hành lang pháp lý về tín chỉ carbon được hoàn thiện, nguồn thu từ hấp thụ và lưu giữ carbon có thể trở thành nguồn lực quan trọng để chi trả trực tiếp cho người dân, cộng đồng và các chủ rừng. “Nếu được tổ chức hiệu quả, rừng có thể trở thành một ngân hàng xanh thực sự”, ông Long nhận định.
Để đạt được mục tiêu này, theo các chuyên gia, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích từ carbon rừng, phát triển chứng chỉ quản lý rừng bền vững và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho ngành lâm nghiệp.
Chuyển đổi số trở thành “trợ lý” mới của ngành lâm nghiệp
Nếu sinh kế là giải pháp bảo vệ rừng từ gốc thì công nghệ là công cụ giúp nâng cao hiệu quả quản trị trong giai đoạn mới. Theo ThS. Bùi Giang Long, với mô hình 34 tỉnh, thành phố sau sắp xếp, việc quản lý rừng bằng phương pháp thủ công sẽ khó đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Hiện nay, công nghệ viễn thám, GIS, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu vệ tinh và thiết bị bay không người lái (drone) đang mở ra khả năng giám sát tài nguyên rừng theo thời gian thực. Thông qua hệ thống dữ liệu số, các cơ quan quản lý có thể phát hiện sớm khu vực suy giảm độ che phủ rừng, điểm nóng cháy rừng hoặc các dấu hiệu bất thường trong sử dụng đất lâm nghiệp. Thay vì mất nhiều ngày tuần tra thực địa, một thiết bị drone có thể giám sát hàng trăm ha rừng chỉ trong thời gian ngắn.
Ông Long cho rằng các địa phương cần xây dựng hệ thống điều hành thông minh trong quản lý rừng, kết nối dữ liệu từ cấp tỉnh đến cấp xã. Khi xuất hiện nguy cơ cháy rừng hoặc phá rừng, hệ thống có thể tự động gửi cảnh báo tới lực lượng chức năng để xử lý kịp thời. Cùng với đó, cần đẩy nhanh việc số hóa bản đồ rừng, đồng bộ dữ liệu lâm nghiệp với dữ liệu đất đai nhằm xử lý dứt điểm tình trạng chồng lấn, tranh chấp và lấn chiếm đất rừng.
Tuy nhiên, chuyển đổi số chỉ phát huy hiệu quả khi đi kèm với nguồn lực phù hợp. Do đó, cần tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ, thiết bị giám sát, đào tạo nhân lực và nâng cao năng lực cho lực lượng kiểm lâm cũng như chính quyền cơ sở.
Nhìn rộng hơn, trong bối cảnh thế giới chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng xanh và phát thải thấp, rừng không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn là nguồn lực phát triển kinh tế. Vì vậy, thực hiện hiệu quả Kết luận số 61-KL/TW không chỉ góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh sinh thái mà còn tạo nền tảng cho phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Việc sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang mở ra không gian phát triển mới, nhưng cũng đặt ngành lâm nghiệp trước nhiều thách thức chưa từng có. Trong bối cảnh đó, nâng cao vai trò của chính quyền cấp xã không chỉ là yêu cầu quản trị, mà còn là điều kiện tiên quyết để bảo vệ rừng, phát triển kinh tế lâm nghiệp và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh.
Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/giu-rung-bang-trach-nhiem-va-dong-luc-kinh-te-461205.html











