Hải Phòng: Nước ngầm ô nhiễm vi sinh, ven biển vượt chuẩn amoni
Nguồn nước ngầm một số khu vực phía Đông Hải Phòng ô nhiễm vi sinh, trong khi đó một số khu vực ven biển, bến cảng, bến phà amoni cũng vượt chuẩn…

Một số khu vực biển cảng biển tại Hải Phòng có các thông số amoni và tổng Coliform vượt chuẩn. Nguồn: Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng
Kết quả quan trắc môi trường năm 2025 vừa công bố cho thấy ô nhiễm vi sinh là vấn đề nổi bật đối với nước dưới đất tại Hải Phòng. Ở vùng biển ven bờ, amoni và tổng Coliform là những thông số có tỷ lệ vượt quy chuẩn đáng chú ý, nhất là tại Đồ Sơn và khu vực cảng, bến phà, cửa sông.
NƯỚC NGẦM NHIỀU KHU VỰC KHÔNG ĐẠT QUY CHUẨN
Theo báo cáo kết quả quan trắc mẫu đất, nước ngầm, nước biển ven bờ tại 22 xã, phường và 1 đặc khu (khu vực Đông Hải Phòng) được quan trắc, hầu hết các điểm quan trắc, lấy mẫu đều ghi nhận ô nhiễm vi sinh.
Năm 2025, tỷ lệ không đạt quy chuẩn cao nhất là tại khu vực phường Hồng An và phường An Dương (trước là huyện An Dương) với 26,9%. Tiếp theo là khu vực phường Đông Hải và phường Hải An (quận Hải An cũ) với 21,2%.
Khu vực các xã Vĩnh Thịnh, Vĩnh Bảo và Vĩnh Am (huyện Vĩnh Bảo cũ) với 19,2%. Khu vực phường Dương Kinh và xã Kiến Hưng (thuộc quận Dương Kinh và huyện Kiến Thụy cũ) với tỷ lệ không đạt chuẩn 16,3%.
Tại khu vực các xã Tân Minh, Tiên Lãng và Chấn Hưng (huyện Tiên Lãng cũ) tỷ lệ không đạt là 13,5%. Các phường Nam Triệu, Bạch Đằng và Thiên Hương (huyện Thủy Nguyên cũ) là 12,5%. Phường Kiến An và phường Phù Liễn (quận Kiến An cũ) là 11,5%. Khu vực phường Nam Đồ Sơn và phường Đồ Sơn (quận Đồ Sơn cũ) ghi nhận tỷ lệ 9%, trong khi đặc khu Cát Hải thấp nhất, ở mức 3,8%.
Ngoài ô nhiễm vi sinh, kết quả quan trắc còn ghi nhận các dạng ô nhiễm vật lý, dinh dưỡng và kim loại tại các khu vực An Dương, Vĩnh Bảo, Hải An, Kiến Thụy, Thủy Nguyên và An Lão. Tại Tiên Lãng, các nhóm ô nhiễm được ghi nhận gồm dinh dưỡng, kim loại và vi sinh. Khu vực Đồ Sơn có ô nhiễm dinh dưỡng, vi sinh. Khu vực Kiến An có ô nhiễm vi sinh và vật lý.
Kết quả quan trắc cũng chỉ rõ diễn biến giữa các năm không đồng nhất. Năm 2025, tỷ lệ không đạt tại khu vực Cát Hải và An Lão có xu hướng tăng. Tại nhiều địa bàn khác, tỷ lệ này có tăng, có giảm và chưa thể hiện xu hướng ổn định. Xét giai đoạn 2019–2025, báo cáo đánh giá mức độ ô nhiễm nước dưới đất tại khu vực An Dương là cao nhất trong các địa bàn được quan trắc.
Theo Trung tâm quan trắc môi trường (Sở Nông nghiệp và Môi Trường TP. Hải Phòng), nước dưới đất của thành phố có dấu hiệu ô nhiễm vi sinh, dinh dưỡng, hữu cơ và kim loại. Một trong những nguyên nhân có thể liên quan đến hoạt động khoan, đào giếng phục vụ sinh hoạt, sản xuất hoặc khảo sát, xây dựng. Khi giếng không còn sử dụng nhưng không được trám lấp đúng quy định, các chất ô nhiễm từ tầng nước mặt có thể ngấm xuống tầng nước dưới đất.
Để hạn chế nguy cơ, cơ quan chức năng kiến nghị cần quản lý chặt hoạt động khoan giếng, xử lý các trường hợp khai thác trái phép, rà soát việc sử dụng nước dưới đất và lấp các giếng không còn sử dụng. Thành phố cũng cần quy hoạch khai thác hợp lý, ưu tiên nguồn nước có chất lượng cao cho ăn uống, sinh hoạt, tăng cường quan trắc và phát triển các trạm cấp nước tập trung tại những khu vực cần thiết.
VEN BIỂN, BẾN CẢNG CÓ NHIỀU MẪU VƯỢT CHUẨN
Đối với môi trường nước biển ven bờ, tại 29 vị trí quan trắc của 6 đợt quan trắc chất lượng nước biển ven bờ đều có dấu hiệu ô nhiễm, vượt chuẩn quy định.
Cụ thể, tại khu vực nước biển ven bờ tại Cát Bà, chất lượng nước biển ven bờ có dấu hiệu ô nhiễm amoni và tổng Coliform, với tỷ lệ mẫu không đạt lần lượt là 10,7% và 17,3%. Tỷ lệ không đạt quy chuẩn của toàn vùng là 3,1%.
Tại Đồ Sơn, tỷ lệ mẫu không đạt đối với amoni là 65%, tổng Coliform là 36,7%, tỷ lệ không đạt quy chuẩn toàn vùng là 11,3%. Khu vực cảng, bến phà và cửa sông ghi nhận tỷ lệ mẫu không đạt đối với amoni là 62,5%, phốt phát là 2,1% và tổng Coliform là 100%. Tỷ lệ không đạt quy chuẩn toàn vùng tại khu vực này lên tới 18,3%.
Trong khi đó, các thông số được phân tích tại Bạch Long Vĩ đều đạt quy chuẩn cho phép. Nhìn chung, các thông số vật lý gồm pH, oxy hòa tan (DO) và tổng chất rắn lơ lửng (TSS) tại các điểm quan trắc được đánh giá khá tốt. Các thông số dầu và kim loại như asen, chì cũng nằm trong giới hạn cho phép.
Đánh giá rủi ro môi trường biển cho thấy Bạch Long Vĩ có mức rủi ro thấp. Cát Bà ở mức thấp đến trung bình nhưng một số thời điểm chỉ số rủi ro vi sinh (Risk Quotient) vượt 1,5. Tại Đồ Sơn và khu vực cảng, bến phà, cửa sông, chỉ số rủi ro có thời điểm ở mức cao và rất cao, chủ yếu do amoni và tổng Coliform.
Chất lượng nước biển cũng biến động theo mùa, các đợt quan trắc vào mùa hè và mùa mưa thường ghi nhận hàm lượng amoni và Coliform cao hơn so với mùa khô, mùa đông. Trung tâm quan trắc môi trường nhận định, tình trạng này có thể liên quan đến lượng nước mưa kéo theo chất ô nhiễm từ đất liền ra biển, cùng với hoạt động du lịch tăng vào mùa hè.
Để cải thiện chất lượng nước biển ven bờ, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hải Phòng khuyến nghị cần tăng cường kiểm soát nguồn nước thải sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ du lịch tại các khu vực ven biển, cửa sông, đẩy nhanh đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung. Cùng với đó cần quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản, tăng cường kiểm tra tàu thuyền, cảng biển, bến phà và ngăn chặn việc xả chất thải chưa qua xử lý xuống vùng nước ven bờ.

