Hệ thống thông tin quốc gia tạo động lực mới cho KHCN và đổi mới sáng tạo
Việc đưa Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vận hành là một bước tiến quan trọng trong xây dựng hạ tầng dữ liệu và nền tảng số của ngành khoa học và công nghệ, góp phần hiện thực hóa chủ trương đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Ngày 11/9/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức lễ ra mắt và đưa vào vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại địa chỉ https://sti.gov.vn.
Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (hệ thống) được xây dựng với mục tiêu hình thành một đầu mối thông tin thống nhất, tin cậy, có khả năng kết nối và dùng chung trên phạm vi quốc gia; từng bước liên thông dữ liệu về tổ chức, nhân lực, nhiệm vụ, kết quả nghiên cứu, công bố khoa học, trích dẫn khoa học và các nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định phát biểu tại buổi lễ.
Điểm nổi bật của hệ thống là khả năng tạo lập liên kết đa chiều giữa thông tin về các tổ chức khoa học và công nghệ, nhà khoa học, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và các công bố khoa học. Hệ thống cung cấp nguồn dữ liệu thống kê tập trung gồm 137 chỉ tiêu ngành khoa học và công nghệ và 17 chỉ tiêu thống kê quốc gia, đồng thời thu thập dữ liệu trích dẫn để tính toán các chỉ số đánh giá chất lượng bài báo và tạp chí khoa học của Việt Nam theo các chuẩn mực quốc tế.
Về mặt hạ tầng kỹ thuật, hệ thống đã hoàn tất kết nối, tích hợp dữ liệu với Trung tâm dữ liệu quốc gia, hỗ trợ đăng nhập một lần qua VNeID và sẵn sàng kết nối, chia sẻ dữ liệu thời gian thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Chia sẻ tại buổi lễ ra mắt, ông Trần Đắc Hiến - Cục trưởng Thông tin, thống kê và đánh giá khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho hay hệ thống không chỉ hướng tới mục tiêu có dữ liệu, mà phải hướng tới dùng được dữ liệu và tạo ra giá trị từ dữ liệu.
GS.TS Nguyễn Hữu Đức - nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá, sự ra đời của hệ thống tạo nguồn dữ liệu rất quan trọng để hoạch định chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong những năm tới.

Ông Đào Ngọc Chiến - Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (Nafosted).
Ở góc độ quản lý, ông Đào Ngọc Chiến - Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (Nafosted) nhận định hệ thống giúp hình thành một phương thức quản lý mới, trong đó các quyết định về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được hỗ trợ bằng dữ liệu.
Bên cạnh đó, theo ông Chiến, hệ thống còn giảm gánh nặng hành chính, tạo thuận lợi cho các nhà khoa học và tổ chức chủ trì.
“Các nhà khoa học cần dành nhiều thời gian hơn cho nghiên cứu, sáng tạo và giải quyết các vấn đề thực tiễn, thay vì dành quá nhiều thời gian cho các thủ tục hành chính, kê khai và cung cấp lại những thông tin mà cơ quan quản lý đã có”, ông Chiến nói.
Hoàn thiện dữ liệu, tăng kết nối và khai thác giá trị
Cho rằng việc ra mắt hệ thống và đưa hệ thống vào vận hành mới chỉ là bước khởi đầu, Thứ trưởng Lê Xuân Định đề nghị các đơn vị tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng dữ liệu. Thứ hai, đẩy mạnh kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu. Thứ ba, chuyển mạnh từ quản lý dữ liệu sang khai thác giá trị của dữ liệu.
Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội nhận định rằng, sau khi xây dựng, cần giữ cho hệ thống “sống”. Muốn hệ thống sống thì phải có dữ liệu được cập nhật thường xuyên, có các cơ quan, tổ chức, nhà khoa học và doanh nghiệp tham gia; phải có người sử dụng, khai thác và đóng góp trở lại cho hệ thống.
Việc đưa Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vận hành được kỳ vọng tạo nền tảng dữ liệu thống nhất, hỗ trợ quản lý, nghiên cứu và kết nối nguồn lực. Khi dữ liệu được cập nhật đầy đủ, liên thông và khai thác hiệu quả, hệ thống sẽ góp phần giảm thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng hoạch định chính sách và thúc đẩy đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

