Hỗ trợ thiết thực, hiệu quả, lấy sự trưởng thành của doanh nghiệp làm thước đo
Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hướng tới chuyển từ tư duy hỗ trợ đơn lẻ sang kiến tạo môi trường, hệ sinh thái phát triển, kết nối nguồn lực công - tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy doanh nghiệp phát triển bền vững, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Tờ trình Dự án Luật. Ảnh: VPQH
5 nhóm chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chiều 17/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về Dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trình bày Tờ trình Dự án Luật, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nêu rõ, Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc triển khai các chính sách hỗ trợ DNNVV. Tuy nhiên, sau gần 10 năm thực hiện, đã bắt đầu bộc lộ những nội dung, chính sách không còn phù hợp; nguồn lực hỗ trợ còn phân tán, đánh giá tác động chưa rõ, chính sách chưa gắn với nhu cầu thực tế, kết quả đầu ra và năng lực phát triển dài hạn.
Hiện nay, DNNVV vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, mặt bằng, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thị trường, năng lực quản trị, tham gia chuỗi giá trị còn hạn chế. Vì vậy, cần có chính sách phù hợp cho khởi nghiệp sáng tạo, hộ kinh doanh chuyển đổi, kinh doanh bền vững và doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Vì vậy, Chính phủ đề xuất ban hành Luật Phát triển DNNVV thay thế Luật năm 2017 để tiếp tục hoàn thiện khuôn pháp lý, kết nối nguồn lực công - tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả thực thi…
Chính phủ đề xuất chuyển từ tư duy hỗ trợ sang kiến tạo môi trường và hệ sinh thái phát triển, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và kết nối nguồn lực; đồng thời huy động sự tham gia của khu vực tư nhân, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, hiệp hội, doanh nghiệp lớn và các đơn vị cung cấp dịch vụ.
“Việc đổi tên Luật thể hiện sự thay đổi trong cách tiếp cận chính sách, từ hỗ trợ đơn lẻ sang tạo lập môi trường thuận lợi; từ chương trình do Nhà nước cung cấp sang đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp; từ chú trọng kinh phí đầu tư sang lấy kết quả và sự trưởng thành của doanh nghiệp làm thước đo” - Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.

Quang cảnh Phiên họp. Ảnh: VPQH
Dự thảo Luật gồm 4 chương, 35 điều, tập trung vào 5 nhóm chính sách.
Theo đó, Dự thảo hướng đến phát triển chung và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các chính sách hướng tới cải thiện khả năng tiếp cận vốn, mặt bằng, công nghệ và thị trường; hỗ trợ tư vấn, đào tạo, kế toán, pháp lý; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, mua sắm công; nâng cao năng lực quản trị và chất lượng nhân lực.
Đối với tiếp cận vốn, Dự thảo định hướng khuyến khích đa dạng hóa nguồn tài chính, đánh giá tín dụng dựa trên dòng tiền, dữ liệu và khả năng tạo doanh thu, thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm. Đồng thời, việc hỗ trợ cần gắn với yêu cầu giảm thủ tục, chi phí tuân thủ và bảo đảm tính minh bạch.
Chính sách cũng hướng đến phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thông qua kết nối với chuyên gia, nhà khoa học, quỹ đầu tư, trung tâm đổi mới sáng tạo và các đơn vị tư vấn; trọng tâm là hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tiếp cận nhà đầu tư và ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh.
Chính phủ cũng đề xuất nhóm chính sách phát triển doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh, nhất là doanh nghiệp một người, thông qua tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi, cắt giảm thủ tục và hỗ trợ tư vấn, đào tạo, kế toán, pháp lý.
Cùng với đó là các chính sách phát triển doanh nghiệp kinh doanh bền vững, khuyến khích sử dụng hiệu quả tài nguyên, đổi mới quản trị, chuyển đổi số và đáp ứng các yêu cầu về môi trường, xã hội và quản trị.
Dự thảo cũng đề cập đến chính sách cho doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ; doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động thuộc các nhóm này và doanh nghiệp tại vùng miền núi, biên giới, hải đảo.
Về chính sách phát triển doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị và kinh doanh quốc tế, Dự thảo Luật tập trung các chính sách về nâng cao năng lực sản xuất, quản trị, chất lượng sản phẩm; kết nối DNNVV với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), nhà phân phối và đối tác quốc tế. Qua đó, doanh nghiệp có điều kiện mở rộng thị trường, tiếp cận công nghệ, tăng năng suất và nâng cao giá trị tạo ra trong nước.
Về tổ chức thực hiện, Dự thảo Luật chuyển sang kiến tạo hệ sinh thái, kết nối nguồn lực công tư, trao quyền doanh nghiệp chủ động chọn dịch vụ. Theo đó, đẩy mạnh số hóa, liên thông dữ liệu, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường hậu kiểm và trách nhiệm giải trình. Doanh nghiệp không phải nộp lại giấy tờ, thông tin mà cơ quan nhà nước đã có hoặc có thể khai thác theo quy định. Dự thảo trao quyền để doanh nghiệp chủ động lựa chọn dịch vụ hỗ trợ, Chính phủ quy định chi tiết những nội dung cần linh hoạt để triển khai chính sách.
Làm rõ cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ
Thẩm tra Dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban nhất trí việc sửa đổi toàn diện, đổi tên luật, nhưng cho rằng, Dự thảo chủ yếu tập trung vào các chính sách hỗ trợ, chưa thể hiện rõ yêu cầu phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Về tiêu chí xác định DNNVV, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng tiêu chí chưa thực sự hợp lý, khó triển khai do biến động hàng năm, phụ thuộc số liệu năm trước, tổng nguồn vốn gồm cả nợ phải trả, chưa rõ cách xác định lĩnh vực của doanh nghiệp đang hoạt động.

Các đại biểu tham dự Phiên họp. Ảnh: VPQH
Cơ quan thẩm tra đề nghị quy định nguyên tắc xác định ngành nghề kinh doanh chính, nghiên cứu dùng số liệu 2-3 năm liền kề, làm rõ căn cứ đánh giá tác động đến phạm vi thụ hưởng, khả năng cân đối nguồn lực khi nâng ngưỡng lao động từ 200 lên 300 người, tổng vốn từ 100 lên 150 tỷ đồng.
Về nguyên tắc hỗ trợ, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp không hỗ trợ trùng lặp, rà soát chế độ sở hữu tài sản hình thành từ kinh phí hỗ trợ, cơ chế thu hồi khi vi phạm cam kết, nghiên cứu chuyển tiếp hỗ trợ 2-3 năm khi doanh nghiệp vượt tiêu chí. Ngân sách Trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho địa phương tự cân đối được ngân sách.
Về phiếu hỗ trợ voucher, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ bản chất pháp lý, quy trình cấp, thanh toán gắn với kết quả kiểm chứng được, phòng ngừa trục lợi.
Liên quan đến chính sách tiếp cận nguồn vốn, Cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát, định giá xử lý tài sản bảo đảm, nhất là tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ, phân định hình thức cấp tín dụng, cấp vốn, tài trợ và chủ thể cung ứng không ảnh hưởng đến quyền tự chủ, an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng.
Đối với chính sách thuế và kế toán, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản tán thành các chính sách ưu đãi, miễn, giảm thuế. Cơ quan thẩm tra đề nghị không quy định cụ thể ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tại Luật này, mà chuyển các nội dung liên quan tại các dự án luật sửa đổi, bổ sung pháp luật về thuế đang được trình Quốc hội tại cùng kỳ họp.
Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị bổ sung nguyên tắc doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng cùng điều kiện về ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn được hưởng ưu đãi không thấp hơn doanh nghiệp khác.
