Học nghề, mở lối sinh kế
Từ những lớp đào tạo nghề sát với nhu cầu thực tế, nhiều lao động ở các xã miền núi khu vực huyện Kbang (cũ) không chỉ có thêm kỹ năng, cơ hội việc làm mà còn tự tạo sinh kế, thậm chí mở thêm cơ hội việc làm cho những thanh niên khác ngay trên quê hương.
Có nghề, có việc ngay trên quê hương
Trong tiếng máy trộn bê tông ầm ào, anh Đinh Văn Nguyên (SN 2003, làng Kông Lơng Khơng, xã Tơ Tung) dùng xe đẩy hứng dòng bê tông để đưa đến các hố móng cột nhà. Xuất ngũ tháng 1-2024, anh trở về làng và theo nghề xây dựng. Từ một người mới vào nghề, Nguyên đang dần trở thành thợ chính, với mức thu nhập hơn 400.000 đồng/ngày.

Anh Đinh Văn Bọi (người đứng trên - bên trái) cùng các thành viên nhóm thợ đang thi công nhà ở của người dân ở làng Kông Lơng Khơng (xã Tơ Tung). Ảnh: Minh Phương
Ngoài thời gian phụ giúp gia đình trên nương rẫy, Nguyên tham gia nhóm thợ xây của anh Đinh Văn Bọi (cùng làng), nhận thi công nhà ở tại địa phương và các xã lân cận. Công việc đều đặn giúp anh có thêm nguồn thu nhập ổn định ngay tại quê nhà.
Gần 10 năm trước, anh Bọi cũng bắt đầu hành trình lập nghiệp từ một lớp học nghề. Năm 2017, sau khi hoàn thành lớp đào tạo nghề xây dựng tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Kbang và được cấp chứng chỉ, anh thành lập đội thợ gồm người thân, họ hàng và thanh niên trong làng.
Đến nay, đội thợ đã nhận thi công hơn 100 công trình lớn, nhỏ, từ nhà ở đến cổng ngõ, hàng rào, nhà vệ sinh; trong đó có những công trình trị giá gần 1 tỷ đồng. Đội thợ không chỉ giúp anh Bọi có việc làm, thu nhập ổn định mà còn tạo việc làm thường xuyên cho gần 20 thanh niên trong làng.
Cùng với 1,5 ha mía, 3 sào bạch đàn, thu nhập từ tiền công và lợi nhuận các công trình xây dựng giúp gia đình anh Bọi có nguồn thu gần 300 triệu đồng/năm. Với anh, học nghề không chỉ giúp có tay nghề mà còn tạo sự tự tin để nhận công trình, gây dựng đội thợ và tạo việc làm cho những người khác.
“Có nghề trong tay thì mình chủ động tìm việc, có thu nhập. Tôi mong ngày càng có nhiều thanh niên trong làng tham gia các lớp đào tạo nghề để có thêm kỹ năng, vững tay nghề và tự tạo việc làm cho mình”, anh Bọi chia sẻ.
Tương tự, sau khi hoàn thành khóa đào tạo nghề xây dựng năm 2024, anh Đinh Văn Siu (làng Knak, xã Kbang) thành lập nhóm thợ 17 người, đến nay đã nhận thi công gần 100 công trình nhà ở lớn, nhỏ.
Có thời điểm anh nhận hơn chục căn nhà; khi công việc nhiều, anh phải từ chối bớt công trình để dành thời gian chăm sóc hơn 1 ha cà phê và 1 ha keo của gia đình. Những thanh niên tham gia nhóm thợ nhờ đó cũng có việc làm thường xuyên, thu nhập hơn chục triệu đồng mỗi tháng.
Học nghề gắn với sinh kế
Không chỉ nghề xây dựng, những lớp đào tạo nghề nông thôn còn giúp người dân tạo ra các dịch vụ thiết thực ngay tại địa phương.

Các học viên đồng bào Bahnar tham gia lớp sửa chữa máy cày công suất nhỏ do Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Kbang tổ chức. Ảnh: M.P
Anh Đinh Văn Quyết (làng Bla, xã Kông Bơ La) sau khi tham gia lớp đào tạo nghề sửa chữa máy cày công suất nhỏ đã có thể tự sửa chữa, bảo dưỡng các loại máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp. Thạo nghề, anh mở tiệm sửa chữa tại nhà để phục vụ bà con trong làng, đồng thời hướng dẫn nghề cho một số thanh niên chưa có việc làm ổn định.
Trước đây, mỗi khi máy móc, nông cụ hư hỏng, anh Quyết phải mang đi sửa, vừa tốn chi phí, vừa mất thời gian, nhiều khi ảnh hưởng đến mùa vụ. Nay anh có thể chủ động sửa chữa, bảo dưỡng máy móc, vừa tiết kiệm chi phí sản xuất, vừa có thêm thu nhập từ nghề sửa chữa.
Theo ông Lê Thanh Sơn, Chủ tịch UBND xã Tơ Tung, các lớp đào tạo nghề đã góp phần thay đổi nhận thức của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, trong sản xuất và phát triển kinh tế.
Những kiến thức về trồng lúa năng suất cao, chăm sóc mía, chăn nuôi, sửa chữa máy móc giúp người dân từng bước chuyển từ sản xuất theo kinh nghiệm sang chủ động áp dụng kỹ thuật, nâng năng suất và thu nhập.

Giáo viên Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Kbang hướng dẫn các học viên lớp trồng lúa năng suất cao tại Thôn 7 (xã Sơn Lang) kiểm tra sâu, bệnh hại và thực hành phun thuốc trừ sâu. Ảnh: M.P
Ông Bùi Tiến Phương, Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Kbang, cho biết từ năm 2015 đến nay, Trung tâm đã mở 112 lớp đào tạo nghề nông thôn cho hơn 3.100 học viên là đồng bào dân tộc thiểu số.
Riêng năm 2025, đơn vị tổ chức 7 lớp cho hơn 200 học viên thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Từ đầu năm 2026 đến nay, Trung tâm tiếp tục tổ chức 3 lớp cho hơn 90 học viên.
Nội dung đào tạo tập trung vào những nghề sát với nhu cầu sản xuất và điều kiện thực tế tại địa phương như kỹ thuật trồng lúa năng suất cao, chăm sóc cà phê, mắc ca, mía; nuôi và phòng bệnh cho trâu, bò; sửa chữa máy cày công suất nhỏ và xây dựng dân dụng.
Theo ông Phương, phần lớn học viên sau khóa học có thể áp dụng kiến thức vào sản xuất hoặc tìm việc làm. Các lớp hướng dẫn trồng lúa, chăm sóc cà phê, mắc ca, mía giúp người dân thay đổi tư duy sản xuất, chủ động hơn trong chăm sóc, bón phân, cắt cành, phòng trừ sâu bệnh, qua đó nâng cao năng suất cây trồng.
Tuy nhiên, đào tạo nghề ở vùng miền núi vẫn còn không ít trở ngại. Phần lớn học viên là lao động chính trong gia đình, sống ở vùng sâu, vùng xa nên khó tham gia các khóa học dài ngày; trình độ học vấn không đồng đều, khả năng tiếp cận thị trường lao động còn hạn chế.
Để nâng hiệu quả đào tạo, Trung tâm phối hợp với các địa phương khảo sát, tư vấn và lựa chọn những ngành nghề phù hợp với nhu cầu của người dân và điều kiện thực tế.

Để nâng hiệu quả đào tạo, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Kbang phối hợp với các địa phương khảo sát, tư vấn và lựa chọn những ngành nghề phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân. Ảnh: Minh Phương
“Muốn đào tạo hiệu quả thì nghề phải sát với nhu cầu của người học và điều kiện thực tế địa phương. Sau khi đào tạo, chúng tôi tiếp tục phối hợp với các địa phương hỗ trợ bà con phát triển nghề, từng bước biến kiến thức được học thành sinh kế và thu nhập”, ông Phương cho biết.
Bên cạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, Trung tâm còn liên kết với các doanh nghiệp trên địa bàn để tạo cơ hội việc làm cho học viên. Qua đó, hàng chục học viên sau khi tốt nghiệp đã tìm được việc làm ổn định tại các doanh nghiệp chăn nuôi, trang trại bò và công ty lâm nghiệp.
Những người không làm việc tại doanh nghiệp cũng có thể vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để tự tạo việc làm, phát triển sản xuất ngay tại địa phương.
Với những thanh niên như Nguyên, con đường lập nghiệp có thể bắt đầu từ chính một lớp học nghề ở quê nhà. Còn với các anh như Bội, Siu hay Quyết, một nghề học được không chỉ giúp họ có thu nhập mà còn tạo thêm việc làm, dịch vụ cho cộng đồng.
Từ những lớp học nghề thiết thực ấy, cơ hội lập nghiệp tại quê hương đang rộng mở hơn đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở các làng vùng cao còn nhiều khó khăn.
Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/hoc-nghe-mo-loi-sinh-ke-post595258.html
