HTX Thành Thái và giấc mơ biến cây tre Tây Ninh thành hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn

Từ măng chua, măng khô, một HTX ở Tây Ninh đang đặt cược vào hành trình gần 25 năm để xây dựng hệ sinh thái tre tuần hoàn, tiến từ Biochar, du lịch sinh thái đến tín chỉ carbon và mục tiêu Net Zero.

Từ một cơ sở sản xuất măng chua, măng khô ở ấp Bình Trị 1, xã Tầm Vu (Tây Ninh), Hợp tác xã Sản xuất, đóng gói sản phẩm nông nghiệp, thương mại và dịch vụ Thành Thái đang theo đuổi một tham vọng lớn hơn nhiều lần quy mô hiện tại. Xây dựng cả một hệ sinh thái kinh tế tre khép kín, đi từ vùng nguyên liệu, chế biến, than sinh học Biochar, du lịch sinh thái đến tín chỉ carbon, trải dài theo lộ trình 2026-2050 và hướng tới mục tiêu Net Zero của Việt Nam.

Từ măng tre đến hệ sinh thái 5 trụ cột

Sản phẩm hiện nay của HTX Thành Thái vẫn là những mặt hàng khá quen thuộc với người tiêu dùng như măng chua tỏi ớt và măng khô, được chế biến từ nguồn tre của chính HTX. Tuy nhiên, phía sau những sản phẩm tưởng như đơn giản này là một quy trình sản xuất được HTX xây dựng khá chi tiết, từ lựa chọn nguyên liệu đến sơ chế và chế biến.

Sản phẩm của HTX Thành Thái  là những mặt hàng khá quen thuộc với người tiêu dùng như măng chua tỏi ớt và măng khô, được chế biến từ nguồn tre của chính HTX.

Sản phẩm của HTX Thành Thái  là những mặt hàng khá quen thuộc với người tiêu dùng như măng chua tỏi ớt và măng khô, được chế biến từ nguồn tre của chính HTX.

Măng tươi được thu hoạch đúng độ tuổi rồi đưa về xưởng để bóc vỏ, loại bỏ những phần già, cứng không đạt yêu cầu. Riêng công đoạn đầu tiên này đã khiến khối lượng nguyên liệu hao hụt tới 55 đến 60%. Điều đó có nghĩa, để có được một lượng măng thành phẩm nhất định, HTX phải sử dụng lượng măng tươi ban đầu lớn hơn đáng kể. Đây cũng là phần chi phí nguyên liệu mà người tiêu dùng khó nhận thấy khi nhìn vào giá của một sản phẩm măng chế biến.

Sau khi sơ chế, măng được thái lát và ngâm muối trong 8 giờ nhằm khử vị đắng và giữ màu tự nhiên. Nguyên liệu tiếp tục được rửa nhiều lần bằng nguồn nước sạch đã qua hệ thống lọc nhiều cấp, sau đó luộc chín và tách nước trước khi chuyển sang công đoạn chế biến cuối cùng. Việc kiểm soát từng khâu như vậy cho thấy HTX đang từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất ngay từ nguyên liệu đầu vào, một nền tảng cần thiết nếu muốn đưa những sản phẩm từ tre vượt khỏi thị trường nhỏ lẻ và tiếp cận các kênh phân phối có yêu cầu cao hơn.

Với dòng măng chua tỏi ớt, măng sau khi tách nước được phối trộn cùng tỏi, ớt tươi theo tỷ lệ nhất định rồi đóng gói trong bao bì thực phẩm đạt chuẩn, không sử dụng chất bảo quản. Với dòng măng khô, hành trình dài hơn. Măng được sấy ở nhiệt độ 75-85 độ C trong suốt 17 tiếng đồng hồ. Tỷ lệ thu hồi được HTX công bố thẳng thắn, 20kg măng tươi chỉ cho ra 1,4kg măng khô thành phẩm, tương đương tỷ lệ hao hụt lên tới 93%.

Đây là con số đáng chú ý, vì nó lý giải vì sao măng khô luôn có giá cao hơn nhiều lần so với măng tươi hay măng chua, không phải do định giá tùy tiện, mà do bản chất vật lý của quá trình sấy khô nguyên liệu có hàm lượng nước cao như măng tre.

Tuy nhiên, chế biến măng mới chỉ là bước khởi đầu trong kế hoạch lớn hơn mà HTX Thành Thái gọi là dự án “Phát triển hệ sinh thái kinh tế tre bền vững”. Mô hình được xây dựng trên 5 trụ cột, nhằm khai thác giá trị của cây tre theo hướng tuần hoàn thay vì chỉ dừng ở bán nguyên liệu hoặc sản phẩm chế biến thông thường.

Trụ cột đầu tiên là phát triển vùng nguyên liệu tre chất lượng cao gắn với bảo vệ môi trường, tạo nền tảng đầu vào ổn định cho toàn bộ hệ sinh thái. Tiếp đó là chế biến các sản phẩm từ măng tre. Đây cũng là lĩnh vực HTX lựa chọn triển khai trước bởi sản phẩm đã có thị trường và có khả năng tạo nguồn thu để duy trì hoạt động.

Bước tiếp theo là sản xuất Biochar, loại than sinh học được tạo ra thông qua quá trình nhiệt phân phụ phẩm tre trong điều kiện thiếu oxy. Theo định hướng của HTX, thay vì để phụ phẩm trở thành chất thải, nguồn sinh khối này sẽ được tận dụng để sản xuất Biochar phục vụ cải tạo đất, tăng độ phì và góp phần giảm phát thải.

Trụ cột thứ tư mở rộng sang du lịch sinh thái cộng đồng, khai thác cảnh quan tre kết hợp với văn hóa bản địa để tạo thêm sản phẩm dịch vụ và sinh kế cho người dân. Xa hơn, HTX đặt mục tiêu từng bước tiếp cận thị trường tín chỉ carbon dựa trên hệ sinh thái tre. Đây cũng là trụ cột tham vọng nhất bởi để hình thành tín chỉ carbon có thể giao dịch, HTX sẽ phải đáp ứng những yêu cầu về phương pháp, dữ liệu, đo lường, xác minh và các tiêu chuẩn liên quan, thay vì chỉ dựa vào khả năng hấp thụ carbon của cây tre.

Ông Nguyễn Quốc Thới, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm tác giả dự án, đặt mục tiêu xây dựng mô hình kinh tế tre tuần hoàn, nâng cao giá trị nông sản, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng và từng bước hướng tới thị trường tín chỉ carbon. Lộ trình được xác định từ năm 2026 đến năm 2050, khá dài so với quy mô hiện tại của một hợp tác xã mới thành lập. Tuy nhiên, khoảng thời gian này cũng phản ánh đặc thù của kinh tế tuần hoàn và tín chỉ carbon, những lĩnh vực khó tạo ra kết quả trong thời gian ngắn, đòi hỏi quá trình phát triển vùng nguyên liệu, hoàn thiện mô hình và tích lũy uy tín trên thị trường.

Hành trình khởi nghiệp và những gì HTX đang cần

Điểm đáng ghi nhận ở HTX Thành Thái là sự thẳng thắn khi đánh giá vị trí và năng lực thực tế của mình. Trong văn bản gửi Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, HTX xác định đang ở giai đoạn khởi nghiệp, đã hình thành sản phẩm và có định hướng phát triển tương đối rõ, song vẫn đối mặt với nhiều hạn chế về vốn, vùng nguyên liệu, công nghệ, thị trường và nguồn nhân lực chuyên môn. Việc chủ động nhận diện những điểm còn thiếu thay vì chỉ nhấn mạnh tiềm năng cho thấy HTX có cách tiếp cận khá thực tế, đặc biệt khi đang tìm kiếm nguồn lực và đối tác cho một dự án có lộ trình phát triển dài hạn.

Trên cơ sở những khó khăn đã xác định, HTX đề nghị Liên minh Hợp tác xã Việt Nam hỗ trợ 6 nhóm nội dung cụ thể. Trước hết là kết nối các nguồn vốn và Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã để đầu tư sản xuất, mở rộng vùng nguyên liệu và ứng dụng công nghệ. HTX cũng mong muốn được hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu tre thông qua liên kết với người dân địa phương, qua đó từng bước hình thành nguồn cung ổn định cho sản xuất.

Một nhu cầu quan trọng khác là kết nối nguồn lực khoa học công nghệ, đặc biệt trong nghiên cứu chuyển hóa phụ phẩm tre và sinh khối thành Biochar. Đây là lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn và công nghệ mà một HTX quy mô nhỏ khó có thể tự triển khai. Bên cạnh đó, HTX đề nghị hỗ trợ tiếp cận thị trường, kết nối với doanh nghiệp, hệ thống phân phối và các chương trình xúc tiến thương mại cho sản phẩm OCOP.

HTX xác định đang ở giai đoạn khởi nghiệp, đã hình thành sản phẩm và có định hướng phát triển.

HTX xác định đang ở giai đoạn khởi nghiệp, đã hình thành sản phẩm và có định hướng phát triển.

Ở khâu quản trị, HTX mong muốn được hỗ trợ chuyển đổi số, kết nối chuyên gia để xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu, quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Cuối cùng là nhu cầu kết nối với các chương trình về kinh tế xanh, giảm phát thải và thị trường carbon đang hình thành tại Việt Nam. Nếu những mắt xích này được kết nối đồng bộ, HTX sẽ có thêm điều kiện để từng bước đưa mô hình kinh tế tre tuần hoàn từ định hướng thành hoạt động sản xuất và kinh doanh thực tế.

Mô hình HTX Thành Thái theo đuổi có thể hình dung như một vòng tuần hoàn khép kín. Hoạt động nông nghiệp tạo ra sản phẩm và phụ phẩm, phần phụ phẩm thay vì bị loại bỏ sẽ được nghiên cứu chuyển hóa thành Biochar. Sản phẩm này sau đó có thể quay trở lại phục vụ sản xuất nông nghiệp, qua đó tận dụng nguồn sinh khối, giảm chất thải, góp phần giảm phát thải và tạo thêm giá trị kinh tế từ nguồn nguyên liệu trước đây ít được khai thác.

Đây cũng là cơ sở để HTX đặt mục tiêu hướng tới Net Zero vào năm 2050 cho dự án. Tuy nhiên, để biến định hướng này thành kết quả thực tế, HTX còn phải giải quyết nhiều yêu cầu về công nghệ, vùng nguyên liệu, nguồn vốn, năng lực quản lý và khả năng đo lường hiệu quả giảm phát thải. Vì vậy, mục tiêu Net Zero chỉ có thể trở thành giá trị thực chất khi toàn bộ chuỗi tuần hoàn được triển khai, kiểm chứng và duy trì trong dài hạn.

Trong văn bản gửi Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, đại diện HTX Thành Thái đưa ra một quan điểm đáng chú ý khi khẳng định HTX không mong muốn nhận hỗ trợ chỉ để duy trì hoạt động, mà cần sự đồng hành để nâng cao năng lực tự phát triển. Theo HTX, các nguồn lực hỗ trợ cần được chuyển hóa thành sản phẩm, vùng nguyên liệu, việc làm, thu nhập và từng bước hình thành mô hình kinh tế tuần hoàn có khả năng nhân rộng, hướng tới đóng góp vào mục tiêu Net Zero 2050 của Việt Nam.

Cách đặt vấn đề này cho thấy HTX xác định khá rõ mục tiêu của việc tìm kiếm nguồn lực. Hỗ trợ không phải đích đến mà là điều kiện để HTX từng bước nâng cao năng lực, mở rộng vùng nguyên liệu, hoàn thiện công nghệ và tự đứng vững trên thị trường.

Với một HTX tại ấp Bình Trị 1, xã Tầm Vu, còn ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, lộ trình đến năm 2050 là một mục tiêu dài hạn và không ít thách thức. Khả năng hiện thực hóa mục tiêu đó sẽ phụ thuộc vào chính năng lực của HTX, đồng thời cần sự kết nối phù hợp từ hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cùng các nguồn lực về vốn, khoa học công nghệ và thị trường. Nếu những mắt xích này được hình thành, mô hình kinh tế tuần hoàn gắn với cây tre của Thành Thái sẽ có cơ hội chứng minh hiệu quả trong thực tế và khả năng nhân rộng trong khu vực HTX.

Quang An

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/htx-thanh-thai-va-giac-mo-bien-cay-tre-tay-ninh-thanh-he-sinh-thai-kinh-te-tuan-hoan.html