Khai thác chỉ dẫn địa lý: Vì sao còn hạn chế?

Đến nay, Việt Nam đã xây dựng và bảo hộ khoảng 130 chỉ dẫn địa lý. Tuy nhiên, nhiều sản phẩm sau khi được cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý vẫn chưa thể chuyển hóa lợi thế này thành giá trị gia tăng thực tế hay đầu ra ổn định.

Doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn loay hoay liên kết sản xuất

Chỉ dẫn địa lý từ lâu đã được xem là bảo chứng quan trọng giúp khẳng định nguồn gốc, uy tín và chất lượng đặc thù của các sản phẩm vùng miền, đặc trưng đia phương. Dù sở hữu tiềm năng lớn, nhiều sản phẩm sau khi được cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý vẫn chưa thể chuyển hóa lợi thế này thành giá trị gia tăng thực tế hay một đầu ra ổn định.

Một số sản phẩm nông sản tiêu biểu của Việt Nam đã được xây dựng và bảo hộ khoảng 130 chỉ dẫn địa lý. Ảnh: Nguyễn Loan

Một số sản phẩm nông sản tiêu biểu của Việt Nam đã được xây dựng và bảo hộ khoảng 130 chỉ dẫn địa lý. Ảnh: Nguyễn Loan

Chỉ ra hai "điểm nghẽn" nằm ở năng lực tiếp cận thị trường và tổ chức sản xuất của các chủ thể, ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhận định: Nhiều hợp tác xã, cơ sở sản xuất vẫn loay hoay trước bài toánkhả năng kết nối và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của hệ thống phân phối hiện đại về giá cả, thanh toán, chất lượng, thời hạn giao hàng.

Theo ông Đào Đức Huấn, cách thức tổ chức, kiểm soát và duy trì chất lượng đối với sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý khó hơn nhiều so với sản phẩm thông thường. Bởi nếu chỉ một chủ thể lơ là về an toàn thực phẩm hay chất lượng, hậu quả sẽ tác động tiêu cực đến cả cộng đồng.

Mặt khác, việc duy trì liên kết sản xuất bền vững cũng là bài toán khó. Đơn cử như sản phẩm mật ong bạc hà Mèo Vạc, có giai đoạn sau khi đăng ký chỉ dẫn địa lý đã xuất hiện tình trạng chất lượng thiếu đồng đều do người dân sản xuất tự phát, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín chung.

Từ góc nhìn xúc tiến thương mại, bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho rằng: Phần lớn sản phẩm dừng lại ở dạng tươi sống hoặc chế biến thô, chưa có quy trình bài bản. Tình trạng sản xuất ồ ạt, phá vỡ quy hoạch vùng bảo hộ làm chất lượng không đồng đều, dẫn đến nguồn cung vượt cầu.

Đáng nói, nhận diện chỉ dẫn địa lý chưa gắn liền với thương hiệu sản phẩm. Dù gắn với địa danh nổi tiếng nhưng bao bì, mẫu mã chưa được đầu tư đúng tầm khiến giá trị sản phẩm trên thị trường còn thấp.

Trong khi đó, hoạt động xúc tiến thương mại còn mang tính thời điểm. Việc tham gia các hội chợ, giao thương ngừng lại ngay sau khi sự kiện kết thúc mà thiếu sự kết nối, chăm sóc khách hàng bền vững. Ngoài ra, hạn chế về ngoại ngữ, kỹ năng marketing, khả năng nghiên cứu thị trường khiến các doanh nghiệp, hợp tác xã khó tiếp cận kênh phân phối hiện đại.

Chỉ dẫn địa lý phải được khai thác gắn chặt với thương hiệu và thị trường

Để chỉ dẫn địa lý phát huy tối đa vai trò là “tấm vé thông hành” đưa đặc sản vùng miền vươn xa, sự thay đổi tư duy từ “bảo hộ” sang “khai thác thương mại” là yêu cầu cấp thiết. Minh chứng cho điều này, nước mắm Phú Quốc - chỉ dẫn địa lý đầu tiên của Việt Nam được bảo hộ tại Liên minh châu Âu (EU) đã thành công đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe để thâm nhập sâu vào thị trường EU và Nhật Bản.

Chỉ dẫn địa lý sản phẩm hạt tiêu Tiên Phước (thành phố Đà Nẵng) giúp nâng tầm loại nông sản này. Ảnh: Hoàng Đạo

Chỉ dẫn địa lý sản phẩm hạt tiêu Tiên Phước (thành phố Đà Nẵng) giúp nâng tầm loại nông sản này. Ảnh: Hoàng Đạo

Đề cập giải pháp cho vấn đề này, bà Hà Kiều Oanh đề xuất doanh nghiệp và hợp tác xã cần chủ động định hình lại chiến lược bắt đầu từ nhu cầu của khách hàng để tổ chức sản xuất ổn định về cả sản lượng lẫn chất lượng, tránh mở rộng diện tích tràn lan làm “loãng” chỉ dẫn địa lý.

Đồng quan điểm, ông Đào Đức Huấn lưu ý, chỉ dẫn địa lý không phải là “đũa thần” để tự động nâng cao giá trị sản phẩm. Chỉ dẫn địa lý đóng vai trò là “thương hiệu nền” giúp định vị danh tiếng và bảo vệ tài sản quốc gia, tài sản cộng đồng trước các hành vi xâm phạm.

“Khi chọn mua cà phê, người tiêu dùng sẽ nghĩ đến cà phê Buôn Ma Thuột và trong dòng cà phê Buôn Ma Thuột, họ sẽ lựa chọn thương hiệu A hoặc thương hiệu B. Thách thức lớn nhất trong hơn 25 năm qua của Việt Nam chính là khâu tổ chức vận hành, kiểm soát để toàn bộ cộng đồng cùng tuân thủ nguyên tắc, có trách nhiệm giữ gìn uy tín chung”, ông Huấn phân tích.

Ở góc độ quản lý Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến cáo, chỉ dẫn địa lý phải được khai thác gắn chặt với thương hiệu và thị trường. Do đó, các địa phương cần tập trung duy trì chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm; chú trọng truy xuất nguồn gốc; đẩy mạnh kết nối trực tiếp với nhà bán lẻ, chuỗi siêu thị và đối tác nhập khẩu. Đồng thời, công tác nâng cao năng lực quản trị, chế biến cho các hợp tác xã phải được triển khai đồng bộ.

Chỉ khi các giải pháp từ quản lý chất lượng, xây dựng thương hiệu đến xúc tiến thị trường được thực hiện đồng bộ, giá trị danh tiếng của chỉ dẫn địa lý mới thực sự biến thành giá trị thương mại, giúp doanh nghiệp, hợp tác xã phát triển bền vững, cũng như bảo đảm sinh kế cho người sản xuất.

Ánh Ngọc

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/khai-thac-chi-dan-dia-ly-vi-sao-con-han-che-1756977.html