Khảo phần Phổ Thuyết Tứ Sơn trong Khóa Hư Lục Giải của Thiền sư Tuệ Tĩnh
Phổ thuyết Tứ sơn là phần có tính văn chương hay và uyên bác bậc nhất trong Khóa hư lục, phần giải nghĩa Nôm cũng chuẩn xác với văn từ tuy nôm na mà vẫn mượt mà nhuần nhị thể hiện được cái hay đẹp của tiếng Việt cổ.
Tác giả: Phan Anh Dũng
Trung tâm Tư liệu Phật giáo Việt Nam - Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội
Tạp chí Nghiên cứu Phật học Số tháng 09/2026
Tóm tắt: Bài viết khảo sát phần Phổ thuyết Tứ Sơn trong bản giải nghĩa Nôm sách Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông, tập trung vào các cứ liệu làm sáng tỏ việc tác giả bản giải Nôm này là Thiền sư Danh y Tuệ Tĩnh đời Trần.
Từ khóa: Khóa Hư Lục, Tứ sơn kệ, Trần Thái Tông, Tuệ Tĩnh, Thận Trai, Vô Dật.
1. Giới thiệu về Khóa Hư Lục
Bản Khóa hư lục (課虛錄) của Trần Thái Tông là một trong những tác phẩm tư tưởng, triết học và tôn giáo có giá trị sâu sắc của văn học Phật giáo cũng như văn học Việt Nam. Tác phẩm không chỉ phản ánh tầm vóc trí tuệ và chiều sâu tư tưởng của một bậc đế vương triều Trần mà còn là cẩm nang tu dưỡng tâm tính, tinh hoa của Phật giáo Thiền tông kết hợp với Nho giáo và Lão giáo. Sách là một tập hợp các bài văn xuôi, bài thơ kệ, bài minh kết hợp giữa kinh nghiệm tu thiền và triết lý nhân sinh.
Khóa Hư Lục là minh chứng rõ nét cho dòng chảy tư tưởng độc lập, tự cường của văn hóa Đại Việt thời nhà Trần, làm nền tảng cho Phật giáo Trúc Lâm. Về mặt văn học, tác phẩm kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn xuôi nghị luận sắc bén, giàu hình ảnh triết lý và thơ ca trữ tình đượm màu sắc thiền vị, thể hiện tài năng văn chương uyên bác của tác giả.
Do giá trị đó ngay từ lúc đương thời tức là đời Trần cho đến nay Khóa Hư Lục đã có nhiều bản giải nghĩa cả Nôm, lẫn quốc ngữ:
- Về chữ Nôm tạm xác định được 2 bản giải nghĩa, giải âm là bản Thiền tông Khóa Hư Ngữ Lục Giải Nghĩa của Thiền sư - Danh y Tuệ Tĩnh đời Trần biên soạn, và bản Khóa Hư Lục Giải Âm của Hòa thượng Phúc Điền là bậc cao tăng đời Nguyễn biên soạn.
- Chữ quốc ngữ thì có: bản dịch của Cư sĩ Thiều Chửu (Khóa Hư Diễn Nghĩa, Tổng Hội Phật Giáo Bắc Kỳ, Nhà in Đuốc Tuệ, 1939); Bản dịch và chú giải của học giả Đào Duy Anh (1974 - NXB Khoa học Xã hội); Bản giảng giải của Hòa thượng Thích Thanh Kiểm (1992- Thành hội Phật giáo Tp HCM)…
2. Giới thiệu bản giải nghĩa Nôm của Thiền sư Danh Y Tuệ Tĩnh
Bản này hiện chỉ còn độc bản duy nhất là bản chép tay ký kiệu AB.268 lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, khả năng vốn là tài liệu do viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) cho người sao chép đầu thế kỷ 20, chép theo một bản in cổ nay đã thất truyền. Sách có 77 tờ, 154 trang, khổ 17x28.5 cm. Mỗi tờ có 6 cột chữ Hán lớn chen với phần giải Nôm chữ nhỏ hơn viết cùng một dòng theo hình thức lưỡng cước. Không kể phần chữ Hán Khóa Hư Lục chỉ kể phần giải Nôm thì đây là áng văn chữ Nôm lớn, có 12.244 lượt chữ Nôm (1), lớn gấp 3 bản Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh có khoảng 4000 lượt chữ Nôm và gấp 7 lần 4 bài phú Nôm đời Trần có khoảng 1500 lượt chữ.
Theo bài tựa chép ở đầu sách ghi năm Đức Long 3 (1631-Tân Mùi, niên hiệu của vua Lê Thần Tông) thì sách do sư Huệ Duyên ở chùa Sùng Quang vùng Từ Quán-Nam Định tìm thấy cổ bản sách quý nên cho san khắc lại. Mà vùng Từ Quán chính là vùng có chùa Hộ Xá tức chùa Giao Thủy cổ thời Lý, thường gọi là chùa Giao Thủy hay chùa Keo, là nơi Tuệ Tĩnh được gửi tới tu tập từ nhỏ và được truyền thụ nghề y từ đây (2).

Chân dung Thiền sư Tuệ Tĩnh - Ảnh: Sưu tầm
Thiền sư Tuệ Tĩnh (慧靜禪師, 1330 - 1400) là một lương y sống ở giai đoạn cuối thời Trần, ông được hậu thế suy tôn là tiên thánh của ngành thuốc Nam, đã có nhiều sách báo đề cập, do giới hạn của bài viết nên chúng tôi xin không trích dẫn ở đây, có thể tham khảo tại wiki (3).
Từ lâu giới nghiên cứu Hán Nôm đã thấy được giá trị của bản Nôm này, người đứng ra khảo chú bước đầu là học giả danh tiếng Đào Duy Anh, đã sớm có các số thiệu thống kê đánh giá cho đây là áng văn xuôi chữ Nôm cổ nhất được biết đến lúc đó (4), chỉ sau 4 bài phú Nôm thời Trần và trước các tác phẩm đời Lê sơ như Quốc âm thi tập, Truyền kỳ mạn lục giải âm.
Tiếp sau học giả Đào Duy Anh, tiến sĩ Trần Trọng Dương (TTD) đã có công trình phiên chú và khảo chú rất công phu về bản giải nghĩa Nôm trên (5).
Kết hợp thêm các tư liệu văn tự có đề cập đến Tuệ Tĩnh như Lịch triều Đăng khoa lục, Hồng Nghĩa Giác tư y thư, Hải Dương Phong vật chí, Lịch triều Hiến chương Loại chí, Quốc sử Di biên... TS Dương đi đến nhận định tác giả bản giải nghĩa Khóa Hư Lục chính là thiền sư danh y Tuệ Tĩnh và là người đời Trần. Có điều TS Dương theo trường phái khoa học thận trọng, tránh các tuyên truyền có tính dân tộc chủ nghĩa thái quá, nên vẫn giữ thái độ cẩn trọng và dừng ở mức phỏng định chứ chưa khẳng định một cách dứt khoát.
Các dữ liệu thống kê phân tích của TS Dương rất tỉ mỉ, chính xác, tuy nhiên một số chỗ chúng tôi còn chưa nhất trí với TS Dương về cách phiên Nôm và giải nghĩa nên muốn khảo chú lại. Do tác phẩm giải Nôm Khóa Hư Lục thuộc loại lớn không thể trình bày gọn trong một bài báo nên trong bài này chúng tôi chỉ trích giới thiệu phần mở đầu của Khóa Hư Lục tức Phổ thuyết tứ sơn, nêu ra các chỗ muốn góp ý với TS Dương, và đưa ra một số nhận xét phát hiện riêng. Phần chú giải tỉ mỉ từng câu chữ của TS Dương chúng tôi cũng lược bớt vì không thích sao chép người khác một cách máy móc.
3. Giới thiệu nguyên tác chữ Hán và bản giải nghĩa Nôm
Xin giới thiệu nguyên văn chữ Hán phần Phổ thuyết tứ sơn kèm phiên âm Hán Việt, và phiên lại phần giải nghĩa Nôm của Tuệ Tĩnh. Cung cách trình bày gần với cách trình bày của bản gốc AB.268, dòng trên là chữ Hán kèm phiên âm, dòng dưới là giải nghĩa Nôm của Tuệ Tĩnh in chữ nghiêng, các chữ phiên khác với TTD thì sẽ đánh
dấu bằng kiểu chữ in đậm.
陳 太 宗 皇 帝 御 製 課 虛 錄
(Trần) Thái Tông hoàng đế ngự chế Khóa hư lục
禪子慎齋法號惠靜字無逸解義
Thiền tử Thận Trai pháp hiệu Huệ Tĩnh tự Vô
Dật giải nghĩa
Phổ thuyết tứ sơn
原 夫 Nguyên phù 四 大 本 無 Tứ đại bản vô
Nguyên chưng vốn không chẳng có Tứ Đại, Tứ Đại là địa, thủy, hỏa phong
五 陰 非 有 Ngũ âm (6) phi hữu
Chẳng có Ngũ Âm, Ngũ Âm là sắc, thụ, tưởng, hành, thức
由 空 起 妄, 妄 成 色 Do không khởi vọng, vọng thành sắc,
Bởi cái không là tự tính dấy nhuốm (7) vọng tình, vọng tình bèn hóa nên sắc tướng.
色 自 真 空 Sắc tự chân không;
Tuy đã có sắc tướng, sau lại bại hoại về đường chân không
是 妄 從 空 空 現 妄 Thị vọng tòng không,
không hiện vọng,
Ấy sự vọng tưởng bởi theo tính không, mà tính không lại hóa hiện là sắc tướng
妄 生 眾 色 Vọng sinh chúng sắc.
Dục lấy tính chân không, bèn hóa sinh là mọi sắc tướng.
既 背 無 生 無 化 Kí bội vô sinh vô hóa,
Đã trái chưng trong nghĩa vô sinh vô hóa
永 為 有 化 有 生 Vĩnh vi hữu hóa hữu sinh.
Bèn mới làm chưng sự luân hồi hữu hóa hữu sinh.
無 生 化 者 則 無 化 無 生 Vô sinh hóa giả tắc vô hóa vô sinh,
Trong lòng đã được nghĩa vô sinh vô hóa, ấy thời chưng sau chẳng có hóa lại chẳng có sinh;
有 化 生 者 則 有 生 有 化 Hữu hóa sinh giả tắc hữu sinh hữu hóa
Bấy giờ (8) chưng mình có làm sự hóa sinh, ấy thời về sau lại phải có sinh cùng có hóa.
或 生 聖 賢 愚 智 之 中 Hoặc sinh thánh hiền ngu trí chi trung;
Hoặc có bậc thời sinh ra làm đấng thánh cùng đấng hiền với đấng ngu cùng đấng trí chưng trong tam giới
或 化 鱗 角 羽 毛 之 內 Hoặc hóa lân giác vũ mao chi nội.
Hoặc có thứ thời hóa có vảy có sừng nhẫn có lông lại có cánh chưng trong tứ sinh.
不 知 不 覺 時 時 沒 溺 于 迷 津 Bất tri bất giác thì thì một nịch vu mê tân
Chẳng biết mình, chẳng cốc (9) tính, giờ giờ hằng chìm đắm chưng nơi bến tối
難 轉 難 迴 往 往 飄 沈 于 苦 海 Nan chuyển nan hồi vãng vãng phiêu trầm vu khổ hải
Khôn chuyển thân, khôn về đầu, hằng hằng đều trôi lướt chưng chốn bể khổ.
昏 昏 懵 懵 豈 覺 豈 知 Hôn hôn mộng mộng khởi giác khởi tri
Làtrongmình thời mù mờ khá hay cốc tính khá hay biết đường về (10).
擾 擾 匆 匆 不 惺 不 了 Nhiễu nhiễu thông thông bất tỉnh bất liễu (11)
Làtronglòngthờichămchắmđauđáuchẳngbiết sợ hãi, chẳng biết lo thân
盡 是 從 心 放 去 Tận thị tòng tâm phóng khứ
Đều thực trong lòng bào (12) buông ra, chẳng biết bắt tóm lại
都 無 驀 鼻 牽 回 Đô vô mạch tị khiên hồi
Đã không kẻ xỏ mũi kéo dắt lại
縱 使 六 道 往 還 Túng sử lục đạo vãng hoàn (13)
Dokhiếnđilạiquanhquấttronglụcđạo,lụcđạolàthiên, nhân, tu la, địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ.
四 山 陟 降 Tứ sơn trắc giáng
Thời lại phải bốn núi trở (14) xuống, bốn núi là sinh, lão, bệnh, tử.
今 敘 四 山 之 序 Kim tự tứ sơn chi tự,
Naybèn làm chưng tựa tứ sơn
以 貽 厥 後 dĩ di quyết hậu Mặc mà ấy mấy chưng đời sau
四 山 偈 Tứ sơn kệ:
四 山 峭 壁 萬 青 叢 Tứ sơn tiễu bích vạn thanh tùng
Bốn núi vây che muôn khóm xanh
了 悟 都 無 萬 物 空 Liễu ngộ đô vôvạn vật không
Cốcngõ đã chẳng có, muôn vật đều không
喜 得 驢 兒 三 腳 在 Hỉ đắc lư nhi tam cước tại
Mừngđượcconlừacóba chân
驀 騎 打 迩 上 高 峰 Mạch kị đả nhĩ thượng cao phong
Xỏ mũi giục lên trên núi cao
解曰 Giải viết : 一 山 者 生 相 也 :
Nhất Sơn:
Giải viết: Nhất sơn giả sinh tướng dã:
Giải ra rằng một núi ấy là tướng lấy (15) vậy
有 差 一 念; 故 現 多 端 Hữu sai nhất niệm; Cố hiện đa đoan
Bởi có sai tâm một điểm chân chẳng vì lúc hóa ra nhiều giềng (16)
托 形 骸 於 父 母 之 精 Thác hình hài ư phụ mẫu chi tinh
Mượnvóchình ở chưng tinh khí huyết cha mẹ
假 孕 育 于 陰 陽 之 氣 Giả dựng dục vu âm dương chi khí
Nương nghén nuôi ởchưng khí bẩm đạo âm dương
* 三 才 而 中 立 Quán tam tài nhi trung lập
Suốt cả ba tài mà đứng ở trung
為 萬 勿 之 至 靈 Vi vạn vật chi chí linh
Làm trước muôn vật chưng chỉn rất thiêng
不 論 上 智 下 愚 Bất luận thượng trí hạ ngu,
Chẳngluận so đấng trí cùng với đấng ngu,
盡 屬 胚 胎 之 內 Tận thuộc phôi thai chi nội
Thảy thảy đều cùng(17) vào chưng trong lòng cưu mang
豈 問 一 人 兆 姓 Khởi vấn nhất nhân triệu tính,
Khá có hỏi một người cùng đến nhẫn muôn họ,
咸 歸 橐 籥 之 中 Hàm quy thác thược chi trung
Lây lẩy (18)đều cùng về chưng trong chốn màngđãy (19)
或 太 陽 表 聖 主 之 誕 生 Hoặc thái dương biểu thánh chủ chi đản sinh
Hoặcngôi tinh Thái Dương bêu đấng thánh vương chưng tưng ối (20)
或 列 宿 應 賢 臣 之 間 出 Hoặc liệt tú ứng hiền thần chi gian xuất
Hoặcvì sao ứng tôi hiền chưng sinh ra.
文 筆 掃 千 軍 之 陣 Văn bút tảo thiên quân chi trận
Mũibútnhọnchưngtrận (21)quéthếtthiênquân
武 略 收 百 戰 之 功 Võ lược thu bách chiến chi công
Nghềvõmạnhchưngcôngthuđượctrămtrậnđánh
男 兒 誇 擲 果 之 姿 Nam nhi khoa trịch quả chi tư
Chíđàn ông khoe chưng mình rắn rỏi, hay (22) ném quả cầu
女 子 逞 傾 城 之 豔 Nữ tử sính khuynh thành chi diễm
Chíđànbà lẳng (23) chưng mình tốt đẹp hay nghiêng được quốc thành
一 笑 傾 人 國 Nhất tiếu khuynh nhân quốc
Một mở miệng cười dễ hay nghiêng được người trong nước
再 笑 傾 人 城 Tái tiếu khuynh nhân thành
Haibận mở miệng cười bèn dễ nghiêng được người trong thành
兢 名 誇 麗 Cạnh danh khoa lệ
Đua đường danh lợi khoe trong tốt lành
爭 異 鬥 珍 Tranh dị đấu trân
Tranhsự lạ lùng đua của châu báu
看 來 總 是 輪 迴 Khán lai tổng thị luân hồi
Xemlạiđều thật những sự quanh quất
到 底 難 逃 生 化 Đáo để nan đào sinh hóa
Rốtráothờicũng khôn trốn được chưng sự sinh tử
* 之 生 相 Nhân chi sinh tướng
歲 乃 春 時 Tuế nãi xuân thì
Người ta chưng thuở (24) mới sinh ra năm (25) dụ (26) bèn ấy là mùa xuân
壯 三 陽 之 享 泰 Tráng tam dương chi hưởng thái
Khỏe thay tiết tam dương chưng vừa (27) đương thông thịnh
新 萬 物 之 萃 榮 Tân vạn vật chi tụy vinh
Mớisạch (28)trongmuôn vật chưng uất mậu rườm rà
一 天 明 媚 村 村 柳 綠 花 紅 Nhất thiên minh mị thôn thôn liễu lục hoa hồng
Cảhòa trong một trời rạng tốt, xóm (xóm) đều liễu xanh hoa đỏ
萬 里 風 光 處 處 鶯 啼 蝶 舞 Vạn lí phong quang xứ xứ oanh đề điệp vũ
Đến nhẫn muôn dặm đều đẹp mặt, chốn chốn đều oanh kêu líu lo, bướm bay phấp phới
遂有偈 云 Toại hữu kệ vân:
真 宰 薰 陶 萬 象 成 Chân tể huân đào vạn tượng thành
Máychântểđúcchuốtnên muôn tượng
本來非兆又非萌 Bản lai phi triệu hựu phi manh
Tính bản lai chẳng có cơ (29), chẳng có mống (30)
秪 差 有 念 忘 無 念 Chỉ sai hữu niệmvong vô niệm
Chỉndấy lòng vọng niệm mà quên mất tính chân như
卻 背 無 生 受 有 生 Khước bối vô sinh thụ hữu sinh
Bèn trái nghĩa vô sinh mà chịu nghĩa hữu sinh
鼻 著 諸 香 舌 貪 味 Tị trước chư hương thiệt tham vị
Mũi ngửihết mọimùi thơmlưỡithammùi ngon
眼 盲 眾 色 耳 聞 聲 Nhãn manh chúng sắc nhĩ văn thanh
Mắttốimọi sắc tốt lỗ tai muốn nghe tiếng
永 為 浪 蕩 風 塵 客 Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Hằnglàmkhách du đãngtrongchốnphongtrần
目 遠 家 鄉 萬 里 程 Mục viễn gia hương vạn lí trình
Ngàyngày xa làng nhà đến muôn dặm đường
Nhị Sơn:
二 山 者 老 相 也 Nhị sơn giả lão tướng dã
Giải ra rằng đấy là tướng hai, núi già vậy
形 容 漸 改 Hình dung tiệm cải
血 氣 既 衰 Huyết khí kí suy
Mìnhmặt dần dần dịch khác khí huyết ngày ngày đã hao
貌 則 枯 Mạo tắc khô
年 則 高 Niên tắc cao
Mặtmũi thì đà gầy, tuổi tác thì đà nhiều
噎 在 前 Ế tại tiền
硬 在 後 Ngạnh tại hậu
Miếngăn nghẹn thì ở trước, tiếng “ái cha” thì ở sau
綠 鬢 丹 臉 翻 為 鶴 髮 雞 皮 Lục mấn đan kiểm phiên vi hạc phát kê bì
Trênmai (31)biênmáđỏ xảy ra làm tóc bạc da lằn (32) (nhăn)
竹 馬 班 衣 復 有 蒲 輪 鳩 杖 Trúc mã ban y phục hữu bồ luân cưu trượng
(câunày thiếu diễn nôm)
縱 使 離 婁 之 目 視 色 明 Túng sử Li Lâu chi mục, thị sắc nan minh
Dầu khiến được chưng con mắt ngươi Li Lâu mà xem cái sắc tốt chỉn khôn sáng
任 敖 師 曠 之 聰 聞 音 莫 辨 Nhiệm ngao Sư Khoáng chi thông, văn âm mạc biện
Đượcchưngtàithôngminh thầy Sư Khoáng nghe tiếng hát hay cũng chẳng biết
憔 悴 若 秋 來 之 柳 Tiều tụy nhược thu lai chi liễu
Xơxácbằng cây liễu chưng thuở đến mùa thu
雕 零 如 春 後 之 花 Điêu linh như xuân hậu chi hoa
Rờirạc (33)khácnàocâyhoathuởcuốimùaxuân
夕 陽 欲 墜 於 西 山 Tịch dương dục trụy ư tây sơn
Mặttrờiđà hầu gác về chưng núi đoài
逝 水 將 傾 於 東 海 Thệ thủy tương khuynh ư đông hải
Nướcchảyđà hầu xuống đến chưng bể đông
* 之 老 相 Nhân chi lão tướng
歲 乃 夏 時 Tuế nãi hạ thì
Ngườitachưngkhi già thì năm dụ làm thuở mùa hạ
炎 天 爍 石 而 萬 物 皆 枯 Viêm thiên thước thạch nhi vạn vật giai khô
Cháymặt trời nướng trụ đá mà muôn vật đều khô nỏ
煨 日 流 金 而 百 川 將 涸 Ổi nhật lưu kim nhi bách xuyên tương hạc
Ám(34)mặt [trời] chảy vàng(35) ra mà trăm sông hầu cạn ráo
殘 花 疏 柳 園 中 溝 畔 豈 能 留 Tàn hoa sơ liễu, viên trung câu bạn khởi năng lưu
Hoađà tàn, liễu đà xơ, trong vườn bên ao há hay ở đỗ
狂 蝶 流 鶯 葉 下 枝 頭 徒 向 老 Cuồng điệp lưu oanh, diệp hạ chi đầu đồ hướng lão
Conbướmdạichimoanh díu dan dưới diệp(36) đầu cành luống tới già
又偈 云 Hựu kệ vân:
* 生 在 世 若 浮 沤 Nhân sinh tại thế nhược phù âu
Ngườisống ở đời ví bằng bọt nổi
壽 夭 因 天 莫 妄 求 Thọ yểu nhân thiên mạc vọng cầu
Dài vắn đều bởi trời mựa(37) loàn đan tìm tòi
景 逼 桑 榆 將 向 晚 Cảnh bức tang du tương hướng vãn
Bóng nắng dời cây dâu (38) đà hầu về muộn
身 如 蒲 柳 暫 經 秋 Thân như bồ liễu tạm kinh thu
Mìnhngườibằng cây liễu dời qua mùa thu
青 雕 昔 日 潘 郎 鬢 Thanh điêu tích nhật Phan Lang mấn
NgàyxưatócxanhthựcđứaPhan Lang
白 遍 當 年 呂 望 頭 Bạch biến đương niên Lã Vọng đầu
Nămnay đầu bạc khác nào đầu Lã Vọng
世 事 滔 滔 渾 不 顧 Thế sự thao thao hồn bất cố
Việc trong đời dẫy dẫy mình đều chẳngđoái đến
夕 陽 西 去 水 東 流 Tịch dương tây khứ thủy đông lưu
Mặttrờigác bên tây nước chảy về bên đông
Tam Sơn:
解曰 Giải viết:
三 山 者 病 相 也 Tam sơn giả bệnh tướng dã
Giải ra rằng ba núi đấy là tướng ốm vậy
年 登 癃 老 Niên đăng lung lão
疾 染 膏 肓 Tật nhiễm cao hoang
Tuổitácđàvề già yếu ốm dường nên đứa cao hoang
四 肢 倦 而 脉 絡 難 通 Tứ chi quyện nhi mạch lạc nan thông
Bốn nơi tay chân run mỏi mà mạch lạc thì chìm tắc khôn thông
百 節 惰 而 寒 溫 靡 順 Bách tiết đọa nhi hàn ôn mĩ thuận
Trămđốtxươnghèn (39)rụng rời mà khi sốt khi rét chẳng thuận
喪 厥 真 常 之 性 Táng quyết chân thường chi tính
Mấtthửachưngbản (40)tính chân thường
失 其 調 暢 之 源 Thất kì điều sướng chi nguyên
Lỗi thửa chưng chưng nguồn điều sướng
起 坐 艱 辛 Khởi tọa gian tân
屈 伸 痛 苦 Khuất thân thống khổ
Khi nằm khi dậy chỉn cay đắng, chưng co vào lúc duỗi ra đều đau đớn
命 若 風 前 之 燭 Mệnh nhượcphong tiềnchi chúc
Mệnhngườibằng chưng đuốc soi qua trước (gió (41))
身 如 水 上 之 沤 Thân như thủy thượng chi âu
Mệnhngườibằngchưngcáibọtở trên mặt nước
心 生 暗 鬼 頭 頭 Tâm sinh ám quỷ đầu đầu
Trong lòng hằng sinh ra thể (42) những chốn chốn ám quỷ
眼 見 空 花 朵 朵 Nhãn kiến không hoa đóa đóa
Conmắtđềucoithấynhữnglàđọt đọt (43) hoa không
形 骸 贏 劣 誰 為 扁 鵲 之 醫 Hình hài doanh liệt thùy vi Biển Thước chi y
Hìnhvócgầy guộc, ai là kẻ làm chưng thuốc như thầy Biển Thước.
體 貌 衰 微 孰 是 盧 人 之 救 Thể mạo suy vi thục thị Lư nhân chi cứu
Mặtmũi đà héo khô ai là người hay chưngchữa (44)bằng họ Lư (45) ấy
親 友 徒 勞 省 視 Thân hữu đồ lao tỉnh thị
Họhàngcùngbầubạngượng (46)nhọcthămlành
弟 兄 空 自 扶 持 Đệ huynh không tự phù trì
Đạo anh với nghĩa em luống nghĩ mang giữ
沈 痾 累 月 而 弗 療 Trầm a lũy nguyệt nhi phất liêu
Bệnh tật trầm trệ ghe tháng mà chưa thấy hiền (47)
伏 枕 經 旬 而 未 癒 Phục chẩm kinh tuần nhi vị dũ
Gối giường nằm lâu trải ngày mà chưa thấy đỡ
* 之 病 相 Nhân chi bệnh tướng
歲 乃 秋 時 Tuế nãi thu thì
Người ta chưng ốm đến thời, năm dụ làm thuở mùa thu.
適 嚴 霜 始 降 之 辰 Thích nghiêm sương thủy giáng chi thần
Xảyvừachưngngày giá sương mới sa xuống
届 眾 草 俱 腓 之 候 Giới chúng thảo câu phì chi hậu
Đến mùa (48) chưng tiết cỏ cây đương khô khan
密 林 茂 樹 金 風 一 扇 幾 扶 疏 Mật lâm mậu thụ kim phong nhất phiến kỉ phù sơ
Rừng mau (49) cây khóm xanh, một trận gió may thổi đến mấy cụm bèn nên xơ xác.
青 嶂 翠 峰 玉 露 初 垂 增 冷 落 Thanh chướng thúy phong ngọc lộ sơ thùy tăng lãnh lạc
Núixanh đương rườm rà(50),mai xưa mưa móc luống thả thơi (51), thảy hóa ra rụng rời.
亦有偈 云 Diệc hữu kệ vân:
陰 陽 愆 德 本 相 因 Âm dương khiên đức bản tương nhân
Khí âm dương đi về vốn cùng nương nhau
變 作 災 屯 及 世 人 Biến tác tai truân cập thế nhân
Biến làm tai truân cùng trời với người thế
大 抵 有 身 方 有 病 Đại để hữu thân phương hữu bệnh
Thảy cả đều có thân thời có bệnh
若 還 無 病 亦 無 身 Nhược hoàn vô bệnh diệc vô thân
Bằng lại chẳng có bệnh ắt cũng không thân
靈 丹 謾 詫 長 生 術 Linh đan man trá trường sinh thuật
Thuốc linh đan ấy là chước nói dối trường sinh
良 藥 難 令 不 死 春 Lương dược nan linh bất tử xuân
Thuốclànhchỉnhay (52)khiếnthanhxuânchẳnggià
早 願 遠 離 魔 境 界 Tảo nguyện viễn li ma cảnh giới
Sớm xin lánh núi thuốc (53), khỏi cõi ma
回 心 向 道 養 天 真 Hồi tâm hướng đạo dưỡng thiên chân
Đem lòng về tới đạo dưỡng chân tính
Tứ Sơn:
Giải viết
四 山 者 死 相 也 Tứ sơn giả tử tướng dã:
Giải ra rằng bốn núi ấy là tướng chết vậy.
之 彌 篤 命 乃 告 終 Bệnh chi di đốc. Mệnh nãi cáo chung
Chứngbệnh chưng đà nhiều lắm thì mình bèn chẳng khỏi tắt nghỉ (54)
壽 齡 期 享 於 百 年 Thọ linh kì hưởng ư bách niên
Sống lâu mong hưởng mãi nhẫn đến trăm năm
身 世 翻 成 于 一 夢 Thân thế phiên thành vu nhất mộng
Đời mình bèn xảy nên một giấc chiêm bao
聰 明 睿 智 難 逃 大 限 日 來 Thông minh duệ trí nan đào đại hạn nhật lai
Tuy rằng sáng láng khôn ngoan cũng khôn trốn được chưng ngày hạn cả lâm đến
勇 力 威 雄 豈 拒 無 常 時 到 Dũng lực oai hùng khởi cự vô thường thì đáo
Dầu có sức khỏe, oai mạnh há hay chống (55) được chưng nơi vô thường đến bắt
貞 妻 順 妾 翻 成 特 地 之 悲 Trinh thê thuận thiếp phiên thành đặc địa chi bi
Vợhiền, thiếp thuận xảy nên chưng một lòng thương xót
恭 弟 友 兄 遽 作 終 天 之 別 Cung đệ hữu huynh cự tác chung thiên chi biệt
Em (56)kính anh lành chóng làm chưng trọn đời (57) cách biệt
粉 身 撲 地 Phấn thân bộc địa, 碎 首 號 天 Toái thủ hiêu thiên
Vậtmình gieo xuống đất, giập (58) nguyện hằng kêu trời
雕 牆 廣 宇 以 奚 為 Điêu tường quảng vũ dĩ hề vi
Tườngrào,nhà rộng mặc làm chi
積 玉 堆 金 而 何 用Tích ngọcđồi kim nhi hàdụng
Trữngọc,tíchvàngmà dùng đâu
夜 臺 幽 掩 空 聞 朔 吹 颼 颼 Dạ đài u yểm không văn sóc xúy sưu sưu
Chốndạđàiđêm vắng luống nghe gió bắc lạnh hẩy hây (59)
泉 戶 長 扃 但 見 愁 雲 慘 慘 Tuyền hộ trường quynh đãn kiến sầu vân thảm thảm
Cửahoàng tuyển hằng đóng, những thấy mây sầu chứa ngất ngất
* 之 死 相 Nhân chi tử tướng 歲 乃 終 時 Tuế nãi chung thì
Ngườitachưnglúcchết,thìnăm dụ làm thuở mùa đông
乾 坤 應 太 歲 而 周 Càn khôn ứng thái tuế nhi chu
Phép trời đất quanh vần bèn lại trở đến đầu năm
日 月 向 玄 枵 而 會 Nhật nguyệt hướng huyền hiêu nhi hội
Sự ngày tháng luân lưu mà lại đến tháng chạp
陰 星 極 盛 一 天 雨 雪 更 雰 霏 Âm tinh cực thịnh nhất thiên vũ tuyết cánh phân phi
Khí âm tinh rất thịnh; một lúc trời mưa giá luống lại càng bời bời
陽 氣 潛 消 八 水 凝 波 增 凜 冽 Dương khí tiềm tiêu nhập thủy ngưng ba tăng lẫm liệt
Khí dương tinh đà mòn dần, tám nước (60) dấy sóng chỉn thêm càng lạnh lẽo
有又 偈云: Hựu hữu kệ vân (lại có kệ rằng (61)).
罷 蕩 狂 風 括 地 生 Bãi đãng cuồng phong quát địa sinh
Vậtvờđang cơn lốc khi bụi bụi bay.
漁 翁 醉 裏 釣 舟 橫 Ngư ông túy lí điếu chu hoành
Đứathằngchàitrongthuởsaybỏ thuyền trôi ngang.
四 垂 雲 合 陰 霾 色 Tứ thùy vân hợp âm mai sắc
Bốn bên mây gió hợp thức nghi ngút
一 派 波 翻 鼓 動 聲 Nhất phái ba phiên cổ động thanh
Mộtkhơi sóng vỗ tiếng bụi động bay
雨 脚 陣 催 飄 歷 歷 Vũ cước trận thôi phiêu lịch lịch
Thần làm mây trận giống sa rả rả
雷 車 輪 轉 怒 轟 轟 Lôi xa luân chuyển nộ oanh oanh
Ông làm sấm trở xe giận rầm rầm
暫 時 塵 斂 無 邊 淨 Tạm thì trần liễm vô biên tịnh
Xảythấykhi bên trời những bụi bụi sạch
月 落 長 江 夜 幾 更 Nguyệt lạc trường giang dạ kỉ canh
Trănglặnsông dài trong một đêm mấy canh (… hết trích đoạn Phổ thuyết tứ sơn)

Ảnh minh họa trang mở đầu bản giải nghĩa Nôm có dòng chữ “Thiền tử Thận Trai pháp hiệu Huệ Tĩnh tự Vô Dật giải nghĩa”
Thống kê một số từ cổ trong bài:
Các khảo chú ngữ nghĩa và ngữ âm cổ chúng tôi đã làm trong phần cước chú nên không dẫn lại ở mục tổng hợp này, chỉ tập trung vào việc thống kê.
Từ đơn: chưng, nhẫn, cốc, lấy (sinh), dụ (ví), chỉn, luống, trở (trắc trở), bêu, ghe, khỏe (nghĩa hơi khác ngày nay), cơ (triệu), mống (mầm), hằng, mựa, hèn (lành, hiền, đọa), đọt (dùng như đóa), diệp (dùng như lá), tang (dùng như dâu).
Từ kép: hằng hằng, chăm chắm, đau đáu, lòng bào, nghén nuôi, lây lẩy, màng đãy, tưng ối, rốt ráo, dụ bèn, diềm dà (rườm rà), cả hòa , đến nhẫn, mai biên, da lằn, ở đỗ, loàn đan, dẫy dẫy, đoái đến, thửa chưng, bằng chưng, trái chưng, luống lại, ra thể, đọt đọt, gượng nhọc, trầm trệ, mai xưa, thả thơi, tắt nghỉ/nghỉn, chỉn thêm, hẩy hẩy.
Một số từ hay cụm từ xét từng chữ thì không cổ nhưng cách kết hợp thì cổ: rạng tốt, quanh vần, mưa giá, bụi bụi, một khơi, những thấy, chóng làm chưng, trong tốt lành, sự quanh quất, cháy mặt trời, ám mặt trời, sa rả rả, chốn chốn (đầu đầu)
Một số cách viết Nôm có vẻ cổ lạ: lẳng ghi bằng lận, giềng ghi bằng triện, hèn/ lành ghi bằng hiền, mựa ghi bằng minh, dâu ghi bằng tang (=tô?).
Đánh giá chung đoạn trích không dài chỉ khoảng 1.700 âm đơn (1.700 chữ Nôm), nhưng tỉ lệ từ cổ, ngữ âm cổ, cách dùng cổ, cách viết chữ Nôm cổ và lạ rất cao.
Sơ kết:
Phổ thuyết Tứ sơn là phần có tính văn chương hay và uyên bác bậc nhất trong Khóa hư lục, phần giải nghĩa Nôm cũng chuẩn xác với văn từ tuy nôm na mà vẫn mượt mà nhuần nhị thể hiện được cái hay đẹp của tiếng Việt cổ như những câu: “Cả hòa trong một trời rạng tốt, xóm xóm đều liễu xanh hoa đỏ”, “Trăng lặn sông dài trong một đêm mấy canh”…
Với tỉ lệ từ cổ, ngữ âm cổ, cách viết cổ cao (62), có thể đưa niên đại văn bản Nôm này lên đến đời Trần, phù hợp với thông tin sách do vị thiền sư danh y Tuệ Tĩnh giải nghĩa Nôm đã ghi ở phần mở đầu của bản giải Nôm “Thiền tử Thận Trai pháp hiệu Huệ Tĩnh tự Vô Dật giải nghĩa”. Đặc biệt thú vị là câu dịch “… xin lánh núi thuốc” trong khi bên chữ Hán lại không có từ “núi thuốc” là một dấu tích cho thấy người dịch Nôm chính là vị thầy thuốc Tuệ Tĩnh.
Tác giả: Phan Anh Dũng
Trung tâm Tư liệu Phật giáo Việt Nam - Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội
Tạp chí Nghiên cứu Phật học Số tháng 09/2026
Chú thích:
(1) Theo Thiền Tông Khóa Hư Ngữ Lục, Trần Trọng Dương khảo chú, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học 2012.
(2) Chùa Hộ Xá còn gọi Nghĩa Xá theo tên địa phương có chùa, còn chính tên chùa đầu đời Lý là Diên Phúc, cuối đời Lý đổi là Viên Quang và giữ đến tận ngày nay. Chùa Viên Quang về sau đã di dời ra Nghĩa Xá thuộc xã Xuân Ninh huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định cũ, không còn ở vùng Từ Quán. Chúng tôi xác định đây mới là chùa Keo cổ nơi Tuệ Tĩnh tu tập, vì có án thờ Tuệ Tĩnh, còn hai chùa có tên Keo trên và Keo dưới hiện nay đều không phải chùa Keo (cách đọc Nôm tên Giao Thủy) thời Tuệ Tĩnh, vì không có án thờ Tuệ Tĩnh.
(3) https://vi.wikipedia.org/wiki/Tu%E1%BB%87_T%C4%A9nh
(4) Sau này còn phát hiện thêm bản văn Nôm rất cổ là bản giải Nôm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, các GS Nguyễn Tài Cẩn, GS Nguyễn Quang Hồng nhận định niên đại ra đời phải lên đến đời Lý, bản này đã được PGS TS Hoàng Thị Ngọ khảo chú, chúng tôi sẽ giới thiệu sau.
(5) Thiền Tông Khóa Hư Ngữ Lục, Trần Trọng Dương khảo chú, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học 2012.
(6) Có dị bản ghi là uẩn蘊 thay vì âm 陰 .
(7) TTD giữ nguyên âm Hán Việt là nhiễm.
(8) TTD phiên chừ, nghĩa cũng là giờ nhưng không thống nhất với các chỗ khác cũng chữ 除 đó lại phiên giờ.
(9) Cốc: biết (từ cổ).
(10) Nguyên bản chữ bị nhòe không đọc được, tạm phiên về theo TTD.
(11) Có bản Khóa Hư Lục ghi là chữ ngộ, bản này dùng chữ liễu nghĩa là “hiểu biết” cũng đúng.
(12) Nguyên bản Nôm viết chữ bào胞 nhưng có thể vốn là chữ dạ 胣, vì tự hình khá giống nhau.
(13) Có bản Khóa Hư Lục để là vãng lai.
(14) TTD phiên là lở xuống. So với chữ Hán trắc giáng ở nguyên bản thì xuống dịch chữ giáng là chuẩn nhưng lở thì không đúng nghĩa của chữ trắc là trèo lên, theo chúng tôi là chữ trở, nó có một nghĩa là “quay ngược lại” phần nào diễn được ý chữ trắc. Chú ý tiếng Việt có từ kép “trắc trở” diễn ý khó khăn như trèo núi, nên khả năng trở có một nghĩa cổ gần như trắc.
(15) TTD cho chữ lấy là sai nên sửa phiên âm là sinh ra, nhưng theo chúng tôi lấy chỉ việc vợ chồng lấy nhau sinh con đẻ cái nên cũng hàm nghĩa “sinh sản”, và có thể nó có một nghĩa cổ là “sống động”, nếu vậy thì không phải Tuệ Tĩnh phiên sai hay người đời sau đã chép lầm chữ, vì vậy chúng tôi vẫn để chữ lấy.
(16) Nguyên bản viết chữ triện 篆TTD phiên chuyện khá sát âm và hợp nghĩa (nhiều chuyện), nhưng chữ chuyện Nôm thường viết
bằng chữ truyện 傳, nên chúng tôi nghi đây là chữ giềng (mối) dịch đúng nghĩa chữ đoan ở phần Hán văn 端, vì tiếng Việt có khả
năng chuyển hóa âm đầu tr-/gi- (triên=>giên) và âm cuối -n/-ng (giên=>giêng), và có khả năng thời xưa giềng có một biến âm gần với triền/triện.
(17) Câu này khả năng có chép sai thứ tự chữ, sửa theo TTD.
(18) TTD phiên sảy sảy, và giải nghĩa là cũng như thảy thảy ở vế trên.
(19) Màng đãy: Từ này dịch từ Hán thác thược là túi bễ hay ống bễ của thợ rèn. Nguyên bản chữ bị khuyết nét, TTD phiên là màn đãy, nhưng để chỉ loại ống bễ kiểu túi da thì màng hợp lý hơn màn, ở một số chỗ khác chúng tôi cũng thấy bản Nôm này dùng chữ có âm cuối -n ghi chữ có âm cuối -ng.
(20) TTD cho bản Nôm là chữ tăng oai sai nghĩa nên sửa là sinh ra, nhưng bị trùng lặp từ sinh ra ở vế dưới nên chắc không đúng. Chúng tôi đề xuất đọc là tưng ối hay sưng ối, có thể là một từ tục chỉ dấu hiệu đàn bà sắp sinh đẻ thì “vỡ ối” ? Riêng chữ tiêu 標 tức nêu, có thể đọc biêu hay bêu đều có nghĩa là dấu hiệu tỏ ra.
(21) Bản Nôm mờ khuyết mấy chữ in đậm này, phiên theo TTD vì TTD có thể được đọc bản giấy gốc.
(22) Hay ở đây nghĩa là biết, là giỏi.
(23) Chữ Nôm viết chữ lận 吝 thêm hai dấu tháu đấm ở hai bên dịch chữ Hán sính 逞 tỏ ý buông tuồng, TTD thận trọng để nguyên âm lận và chú là chưa rõ âm đọc Nôm. Xét chữ Nôm “lăn” có trường hợp được ghi bằng chữ Hán lăng (凌) thì chữ lận cũng có khả năng đọc Nôm ra lẳng, chỉ bộ điệu khoe dáng của đàn bà, nghĩa gần chữ sính, nên chúng tôi tạm phiên là lẳng.
(24) TTD phiên khuở theo cổ âm của chữ Nôm 課thuở, tức là gần sát âm Hán 課 khóa. Hiện chưa biết rõ thời Tuệ Tĩnh (TK-14) đã đọc là thuở chưa, nhưng xét thấy trong văn bản này chữ Nôm tháng 𣎃 đã ghi với biểu âm là chữ thượng 尚 tức là đã có âm đầu th- chứ không còn giữ cổ âm “kháng” (=tháng) như ở tiếng Mường, nên chúng tôi quyết định phiên thuở vì nghĩ rằng cách ghi bằng chữ khóa 課 có thể là do tính bảo thủ của chữ viết, chứ cuối đời Trần có thể vùng phía Bắc và Đông đồng bằng Bắc Bộ (xa với vùng có người Mường) đã đọc âm thuở rồi, cách đọc đó tồn tại song song với cách đọc khuở còn giữ ở các vùng gần đất Mường.
(25) Bản Nôm viết sai chữ nam 南 (năm, dịch chữ tuế ở phần chữ Hán) ra chữ phủ 甫.
(26) Dụ: tức ví dụ, ví như, cách nói cổ.
(27) TTD phiên bề, chữ nào cũng có nghĩa. Thực ra cả hai đều là phụ từ, không ảnh hưởng nhiều về ngữ nghĩa vì có chữ đương ở sau điều chỉnh rõ nghĩa.
(28) Xét chữ sạch đối với hư từ thay ở vế trên thì không nên hiểu theo nghĩa trong sạch mà hiểu theo nghĩa sạch cả, đều cả.
(29) Cơ viết bằng chữ ky 箕 dịch nghĩa triệu 兆 là điềm triệu, chữ Nôm này có vẻ cổ và lạ.
(30) Mống: mầm mống, dịch chữ manh 萌 ở nguyên bản.
(31) TTD phiên mây.
(32) Lằn: Nguyên bản viết chữ lân鄰 thêm bộ khẩu chỉnh âm (𡂰), thể hiện cổ âm của nhăn là m-lăn, tương tự như trường hợp nhầm (lầm) cổ âm là m-lầm … TTD phiên dăn.
(33) TTD phiên rơi rác, cũng gần nghĩa.
(34) Ám dịch chữ ổi là nướng, nên phải hiểu theo nghĩa là ám vào, áp dính vào
(35) Tức đốt chảy cả vàng (kim loại).
(36) Diệp cũng có thể đọc “lá” theo nghĩa.
(37) Mựa: Bản diễn Nôm ghi bằng chữ minh 鳴 , TTD không chú giải gì cả, có thể TTD coi đây là chữ mạ 嗎viết lầm tự dạng ra鳴.
Trường hợp này cần thận trọng khảo kỹ, xin tham khảo bài về chữ kinh=keo của tác giả trên Tạp chí Hán Nôm số 3-2024, có dẫn các ví dụ cho thấy âm cuối -ng/-nh có thể chuyển hóa ra -w hay -a, -ô, có khả năng mựa thời xưa phát âm gần như “mựw” nên ghi bằng鳴?
(38) Nguyên bản Nôm viết cây tang 桑 mà không viết cây dâu 橷, hai âm tang/dâu đọc lên rất khác nhau nhưng có thể vốn là cùng một gốc, xin nhắc lại khả năng -ng chuyển hóa ra -w ở ghi chú trên, nên tang có thể đọc như taw, mà âm taw lại khá gần âm tiếng Mường gọi dây dâu là cây tô, dấu tích cổ âm này cho thấy bản Nôm khá cổ lên đến đời Trần, đúng của Tuệ Tĩnh. Xem thêm chú thích minh=mựa ở vế trên.
(39) Hèn: Dịch chữ đọa là lười, uể oải. Có thể còn có âm khác là nhèn.
(40) TTD đọc Nôm là vốn, nhưng nên để nguyên âm bản vì bản tính là từ Hán Việt vẫn dùng phổ thông.
(41) Nguyên bản Nôm viết là trước mặt, phiên là trước gió như TTD để khớp với chữ Hán phong tiền.
(42) TTD phiên thảy là toàn những. Nhưng “ra thể” cũng là một cách nói bình dân, ý như “ra thế, dường như là”
(43) TTD phiên đợt đợt, nhưng xét chữ Hán là đóa thì phiên đọt (tức ngọn, cũng tức là bông) sát nghĩa đóa hơn.
(44) Nguyên bản viết chữ trợ 助, TTD phiên đỡ. Nhưng chữ này trong giới lương y làm thuốc hay đọc Nôm là chữa, mà Tuệ Tĩnh được tôn xưng là một trong các tổ ngành Y, vì vậy chúng tôi chọn phiên là chữa.
(45) Họ Lư: chỉ danh y Biển Thước thời Chiến Quốc, là người đất Lư. TTD cho rằng Tuệ Tĩnh dịch Lư nhân ra “họ Lư” là chưa chuẩn, nhưng theo chúng tôi thời xưa hay lấy tên đất làm họ, nên dịch họ Lư vẫn ổn.
(46) TTD phiên gánh, nhưng đối với vế sau là hư từ luống thì có lẽ phải là gắng, gượng đúng hơn là gánh.
(47) TTD phiên hèn và đoán nghĩa là giảm bớt để dịch chữ Hán liêu 療, nhưng chữ liêu có nghĩa là chữa cho khỏi bệnh, nên chúng tôi cứ để nguyên âm chữ Hán hiền nghĩa là lành, vì dân gian hay nói khỏi bệnh là “lành bệnh”, hoặc có thể áp dụng cách đọc chữ Nôm theo nghĩa mà đọc “ … thấy hiền” ra “… thấy lành” cũng được.
(48) Chữ viết không rõ ràng, TTD phiên độ, chúng tôi phiên mùa .
(49) Rừng mau: mau là dịch sát nghĩa chữ Hán密 mật (đan xen sít nhau), tức rừng rậm.
(50) TTD phiên diềm rà theo Tự điển của Huỳnh Tịnh Của tức theo giọng Nam bộ, còn chúng tôi cứ theo giọng Bắc phiên là rườm rà, ý nghĩa như nhau chỉ khác cách viết do giọng địa phương.
(51) TTD phiên thơ thới, có vẻ không sát nghĩa chữ Hán là sơ thùy (thả nhẹ xuống, rủ xuống). Chúng tôi phiên thả thơi với ý là buông (thả) xuống một cách nhẹ nhàng.
(52) Nguyên bản chữ bị nhòe, tạm theo TTD phiên là hay, nhưng phải hiểu đây kiểu nói ngược, chỉn hay khiến phải hiểu ngược lại là chẳng dễ khiến mới đúng nghĩa bên chữ Hán nan linh (khó mà khiến).
(53) Lánh núi thuốc: Tức lánh về núi trồng thuốc hay hái thuốc. Đây là câu văn giúp xác định người soạn bản giải nghĩa Nôm sách Khóa Hư này chính là vị thầy thuốc lừng danh Tuệ Tĩnh, vì nguyên văn câu chữ Hán chỉ nói là “viễn li ma cảnh giới” tức là rời xa khỏi cõi ma, chứ đâu nói gì đến núi thuốc ? vậy mà tự nhiên người dịch Nôm lại đưa vào, hẳn phải là người làm nghề thuốc mới “buột miệng” buông ra mấy lời đó.
(54) TTD phiên tắt nghỉn dựa theo Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của. Nhưng ông Của theo giọng Nam chúng tôi chọn theo giọng bắc nên phiên là tắt nghỉ, đều cùng nghĩa là chết, dịch chữ Hán cáo chung.
(55) TTD phiên sót chữ chống.
(56) Bản Nôm chép nhầm em thành vợ, sửa là em để đúng với bên chữ Hán là cung đệ.
(57) Bản Nôm ghi đời, TTD phiên ra trời để dịch sát chữ Hán chung thiên. Có thể dịch giả đã có sự linh động khi dịch trọn đời chứ không dịch trọn trời… chúng tôi cho rằng đây không phải dịch sai hay chép sai, nên vẫn phiên đúng mặt chữ Nôm đời.
(58) Giập: Chữ Nôm viết bằng chữ Hán chập 蟄, TTD phiên là sụp. Sụp nguyện có vẻ sát cách nói hiện đại hơn, nhưng biến âm đầu ch-=>gi- phổ thông ở tiếng Việt cổ nên chúng tôi phiên giập (tức “giập đầu” lạy).
(59) Nguyên bản chữ Nôm viết hải hải 海海, TTD phiêu hẩy hẩy, theo cuốn Bảng tra chữ Nôm 1976 còn có thể đọc hây hẩy.
(60) Tám nước tức bát công đức thủy (thuật ngữ Phật giáo).
(61) Nguyên bản không diễn dịch các câu dẫn này, thêm vào theo TTD.
(62) Xem thống kê phân tích đầy đủ trong sách của TS Trần Trọng Dương.
Tài liệu tham khảo:
1] 禪宗課虛語錄. 禪子慎齋法號惠靜字無逸解義. Bản AB.268 lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
2] Thiền tông Khóa hư Ngữ lục, Trần Trọng Dương khảo chú, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học 2012.
3] Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt. Nguyễn Tài Cẩn, NXB Giáo Dục, Hà Nội. 1995
4] Từ điển từ cổ . Vương Lực (NXB Đà Nẵng, 2001).
5] Trang https://vi.wikipedia.org/wiki/Tuệ_Tĩnh, truy cập lúc 16h58, 03/08/2026.
