Khi nhịp sống lao động trở thành di sản
Xuất phát từ những động tác rất thực trong đời sống, rồi được 'nghệ thuật hóa' bằng làn điệu, tiết tấu, những điệu múa của đồng bào Khơ Mú ở Điện Biên luôn mang sắc màu riêng biệt. Dấu ấn được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2022, như tiếp thêm động lực để 'vũ điệu' độc đáo của đồng bào lưu truyền và thăng hoa giữa dòng chảy hiện đại…
Vũ điệu từ tre, nứa
Nghệ nhân ưu tú Quàng Văn Cá, bản Tọ Cuông (xã Búng Lao) hiện là một trong số ít người am hiểu về văn hóa Khơ Mú, trong đó có nghệ thuật múa. Ông đồng thời là người chủ trì các lễ hội truyền thống trong cộng đồng Khơ Mú ở Tọ Cuông. Theo ông Cá, trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của đồng bào Khơ Mú, múa là phần không thể thiếu. Múa gắn liền với các nghi thức, lễ hội như: Cúng bản, cầu mưa, cầu mùa, mừng cơm mới cũng như trong mỗi cuộc vui. Và chính những đạo cụ, nhạc cụ được chế tác từ tre, nứa đã làm nên nét đặc trưng riêng cho những điệu múa Khơ Mú.

Phụ nữ Khơ Mú xã Mường Phăng trình diễn nghệ thuật múa.
Đơn cử có thể kể đến là tăm đao, loại nhạc cụ phổ biến nhất, được làm từ ống nứa. Khi gõ sẽ tạo thành chuỗi âm kép rung vọng, lúc thầm thì, lúc vang xa. Nhạc cụ đồng thời là đạo cụ này bắt nguồn từ dụng cụ đuổi chim khỏi về ăn hạt lúa giống trong mùa tra hạt. Hoặc như tót, pí tơm là các loại sáo, được chế tác từ những đoạn tre, nhưng thiết kế khác nhau nên tạo ra âm thanh riêng biệt.
“Xưa kia cuộc sống ông bà, tổ tiên chúng tôi đơn giản lắm. Cứ thiếu vật dụng, đồ dùng gì là lên rừng bẻ tre, bẻ nứa về làm. Rồi trong quá trình làm, cầm thân cây gõ, thổi… thấy tạo thành âm thanh hay, vui tai thì mang vào sử dụng trong các điệu múa. Lâu dần được chỉnh sửa, chế tác, hoàn thiện rồi hình thành các loại nhạc cụ, đạo cụ như bây giờ”, ông Cá kể.
Còn theo bà Lường Thị Nên, thành viên đội văn nghệ Khơ Mú tại bản Ten, xã Mường Phăng, cái hay là các loại đạo cụ này có thể biến tấu theo nhu cầu người sử dụng, chứ không nhất nhất theo khuôn khổ. Một số sản phẩm được sử dụng trực tiếp trong múa như là đạo cụ. Song cũng có thể được coi là nhạc cụ tạo ra âm thanh để dẫn dắt người múa theo nhịp điệu, tiết tấu riêng.
“Chẳng hạn như trong điệu múa dỗ ống (tăng bẳng tăng bu), thì các ống tre được gõ xuống nền nhà sàn hay mặt gỗ để tạo âm thanh, nhịp điệu. Còn trong điệu múa tăm đao thì trên thân của đao có những lỗ để điều chỉnh âm thanh. Nếu người sử dụng khéo léo thì các lỗ này như những nốt nhạc tạo ra nhịp điệu, giúp điệu múa ấn tượng, thu hút hơn”, bà Nên cho hay.
Theo các tài liệu nghiên cứu văn hóa địa phương, động tác trong múa Khơ Mú thường gắn với hoạt động trong sinh hoạt đời thường. Đơn cử múa ong eo là lắc hông, uốn eo, mô phỏng theo các động tác, cử chỉ như: Gặt lúa, bẻ ngô, hái rau, nhổ cỏ, đơm tép, giặt giũ. Múa cá lượn vào dịp vui, lễ sửa nhà với những động tác mô phỏng quẫy đuôi, chuyển động của loài cá...
Vì xuất phát và tái hiện cuộc sống lao động sản xuất nên các động tác múa Khơ Mú thường nhanh, mạnh, toát lên sự khỏe khoắn. Trong múa thường sử dụng chiêng, trống, khi chiêng đánh càng khỏe, càng nhanh thì các đạo cụ cầm tay của người múa dỗ xuống đất càng mạnh, nhịp múa càng hối hả, tạo nên không khí rạo rực, lôi cuốn mọi người hòa chung vào điệu múa.
Tiếp lửa di sản
Dân tộc Khơ Mú ở Điện Biên hiện có trên 22.000 người, chiếm khoảng 3,9% dân số toàn tỉnh. Theo các tài liệu nghiên cứu từ Phòng Quản lý Di sản văn hóa cũng như Bảo tàng tỉnh (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), hiện nay nghệ thuật trình diễn múa Khơ Mú đang được thực hành, gìn giữ và phát huy tại 66 bản trong tỉnh. Năm 2022, nghệ thuật múa Khơ Mú chính thức được công bố là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Từ đó đến nay, việc giữ gìn và thực hành múa diễn ra tích cực hơn trong đồng bào Khơ Mú ở các địa phương.
Tại bản Kéo (xã Mường Phăng) có gần 90 hộ dân tộc Khơ Mú cư trú, với dân số hơn 500 người. Ông Quàng Văn Thanh, Trưởng bản Kéo cho biết: “Nhiều năm qua, cuộc sống hội nhập có nhiều niềm vui khác nên không ít bạn trẻ không còn để tâm đến múa. Việc được công nhận là di sản cấp quốc gia không chỉ là vinh dự với chúng tôi, cho thấy giá trị thực sự của nghệ thuật này mà đã tạo động lực để đồng bào Khơ Mú tiếp tục gìn giữ, phát huy trong các thế hệ tiếp nối”.
Bản Hua Ca (xã Quài Tở) đã thành lập đội múa riêng và duy trì hoạt động nhiều năm nay, sinh hoạt rất tích cực. Đội múa do bà Quàng Thị Hinh là người truyền dạy chính. Bà Hinh vừa là người lớn tuổi, am hiểu về dân tộc Khơ Mú, lại yêu văn hóa, văn nghệ. Đội không chọn người biết múa, mà ai chăm chỉ, có nguyện vọng đều có thể tham gia. Người biết múa, thổi nhạc cụ… thì dạy lại cho người chưa biết và tham gia trên tinh thần tự nguyện.
“Ngay từ khi còn nhỏ, chúng tôi đã được các bà, các mẹ dạy múa. Nhưng lâu rồi không thực hành nên nhiều chị em quên hết. Khi bản thành lập đội múa, tôi đã tham gia để có nhiều cơ hội múa cho bà con xem. Nhưng quan trọng hơn là muốn thế hệ trẻ trong bản cũng yêu thích múa hát như mình. Bây giờ không phải chờ đến ngày hội, lễ Tết, mà mỗi dịp cuối tuần bà con trong bản đều được thưởng thức những điệu múa truyền thống”, chị Lường Thị Tiên, thành viên đội múa bản Hua Ca tâm sự.
Để gìn giữ, phát huy nghệ thuật múa độc đáo, những năm qua, các cơ quan, đơn vị chuyên môn trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức, phối hợp phục dựng, bảo tồn nhiều lễ hội của đồng bào Khơ Mú tại các địa phương, trong đó gắn liền với nghệ thuật múa. Những hoạt động này vừa với mục đích gìn giữ đồng thời quảng bá, phổ biến rộng rãi hơn về loại hình nghệ thuật múa Khơ Mú trong dòng chảy văn hóa hiện đại.
Tại mỗi sự kiện văn hóa, nghệ thuật, hội thi, hội diễn của tỉnh, ngành, chính quyền các địa phương đều khuyến khích cộng đồng người Khơ Mú tích cực tham gia. Đặc biệt, việc được công nhận là di sản văn hóa đã giúp bà con thay đổi nhận thức, ý thức với loại hình múa truyền thống dân tộc. Từ đó, có thêm sự quan tâm, đầu tư cho việc gìn giữ, phát huy giá trị để nghệ thuật múa thăng hoa.











