Quảng Nam lưu trong sách cổ

Danh xưng Quảng Nam từ lâu không chỉ được ghi chép bởi tác giả trong nước mà còn được những tác giả nước ngoài ghi lại từ nhiều góc nhìn khác nhau. Trong đó thư tịch cổ Trung Quốc có số lượng phong phú nhất.

Địa danh Quảng Nam trong bản đồ sách An Nam đồ thuyết (thế kỷ XVI). Ảnh: Tư liệu

Địa danh Quảng Nam trong bản đồ sách An Nam đồ thuyết (thế kỷ XVI). Ảnh: Tư liệu

Trong kho tư liệu sách cổ này, danh xưng Quảng Nam hiện lên như một “nhãn hiệu tri thức” đa diện, khi là cảng thị, khi là xứ-trấn, lúc lại là tôn danh “Quảng Nam quốc”.

Vị thế hàng hải

Danh xưng Quảng Nam được chép trong một loạt cổ tịch của Trung Quốc. Sách Từ điển địa danh Biển Đông cổ đại liệt kê ít nhất 30 thư tịch cổ kèm “điểm neo tài liệu” có ghi chép về Quảng Nam như: Việt kiệu thư - Sách ghi chép về vùng đất Việt cổ: địa lý, phong tục, lịch sử (quyển 1, 7, 12114), Quảng dư đồ - Bản đồ địa lý rộng lớn thường bao gồm bản đồ Trung Quốc và các nước lân cận (quyển 1, 2), Hoàng dư khảo - Sách khảo cứu về bản đồ địa lý đương triều (quyển 21), Thù vực lục - Sách ghi chép về các khu vực khác ngoài Trung Quốc (địa lý, phong tục nước ngoài) (quyển 5, 6), An Nam đồ chí - Sách ghi chép và bản đồ về An Nam (Việt Nam), Đông Tây dương khảo - Sách khảo cứu về các nước vùng Đông Dương và Tây Dương (tức các nước Đông Nam Á, Nam Á và Trung Đông) (quyển 1, 5), An Nam kỷ du - Sách ghi chép về chuyến du hành đến An Nam (Việt Nam), Hải quan chí - Sách ghi chép về các cửa biển, hải cảng và việc kiểm soát thuế quan thương mại đường biển (quyển 24, 30)…

Ở bình diện biển, sách Đông Tây dương khảo (quyển 9 Chu sư khảo) của Trương Tiếp cho thấy Quảng Nam trước hết là một điểm mốc quan trọng - “kim chỉ nam” của lộ trình hàng hải. Tài liệu này trình bày phương pháp sử dụng “kim” (la bàn), “canh” (thời gian), “thác” (độ sâu) và cách nhận dạng núi, đảo, cửa biển để “đi đường trên mặt nước” từ Phúc Kiến xuống các quốc gia Biển Đông.

Trong mạch mô tả ấy, tác giả ghi rõ tuyến biển đi qua giao giới An Nam và những cảng bờ biển Trung bộ. Từ vùng “biển Giao Chỉ” (vùng biển Bắc bộ ngày nay) “đánh nước độ sâu 70 sải” lần xuống phía Nam theo hướng Khôn Mùi (hướng Tây Nam: 202.5° - 232.5°) đến “cảng Thanh Hóa”, “cảng Thuận Hóa”, rồi qua các mốc địa hình Chiêm Bút La (Cù Lao Chàm). Theo đó, Quảng Nam hiện ra như một không gian giao thương, nơi “đỗ thuyền, tránh hiểm, lấy nước, đổi hàng”.

Trong mục “Nam Dương ký” của sách Hải quốc lục - Sách ghi chép về các nước ở vùng biển, vịnh Quảng Nam chỉ vịnh hình cung ở miền Trung Việt Nam (tức vịnh Đà Nẵng hiện nay?), cảng Quảng Nam là chỉ đô thị cổ Hội An.

Vai trò phòng vệ

Ở bình diện tri thức phòng vệ, Quảng Nam lại được đặt trong cấu trúc nội trị của An Nam. Điều này thể hiện rõ trong sách An Nam đồ thuyết - Sách có bản đồ và giải thích về An Nam (Việt Nam), do Trịnh Nhược Tăng biên soạn, từ nhãn quan hải phòng và biên phòng.

Nghiên cứu hiện đại về Trịnh Nhược Tăng cho thấy ông viết về các nước lân bang (Nhật, Triều Tiên, Lưu Cầu, An Nam) với mục đích “dùng tri thức địa lý làm công cụ phòng bị”, nghĩa là địa danh được nhắc như điểm nhạy cảm chiến lược chứ không thuần túy nói về phong tục, sản vật. Trong lối nhìn này, Quảng Nam là “xứ trấn phương Nam” của An Nam, nằm trên trục chuyển tiếp từ Thuận Hóa vào đất Chiêm Thành cũ, là một “biên địa nội quốc” thuộc về An Nam.

Trong mục lục và phần “tổng tự” của sách Việt kiệu thư, tác giả Lí Văn Phượng chủ trương ghi chép toàn diện An Nam từ núi sông, quận huyện, phong tục, chế độ đến chiếu thư, biểu tấu, công văn ngoại giao. Qua đó, tác giả dựng nên một “hồ sơ quốc gia” Đại Việt theo phong cách cổ tịch.

Đáng chú ý, ở những quyển chuyên về “thư sớ di văn”, các tranh luận liên quan tới phương Nam (trong đó có trục Thuận Hóa - Quảng Nam) thường xoay quanh việc đặt quan, chia đất, lập chế, tức biến biên địa thành “đất có tên trong sổ sách”. Như vậy, Quảng Nam ở đây không chỉ là một “điểm đến” như trong hải trình, mà còn là một phần của tiến trình nội trị: mở đất, đặt dinh, lập huyện, thu thuế. Tất cả nhằm bảo đảm tính liên tục của lãnh thổ Đại Việt.

Địa danh quản trị

Sách Hoàng dư khảo và đặc biệt bản mở rộng Quảng hoàng dư khảo thể hiện rõ cách nhà Minh tổ chức không gian thực địa bằng bản đồ và chú giải từ “nhất thống đồ” (bản đồ thống nhất) đến các phần “lưỡng kinh thập tam tỉnh” (hai kinh 13 tỉnh), kế đó “cửu biên đồ” (bản đồ 9 khu vực biên viễn), rồi “tứ di đồ” (bản đồ các lân bang). Trong bố cục này, An Nam (và các xứ phía Nam như Quảng Nam) thường nằm ở vùng “tứ di” hoặc cận tứ di, được Trung Quốc ghi nhận để “biết mà phòng”, chứ không mô tả chi tiết như các địa phương nội địa của Trung Quốc.

Trong sách này, Quảng Nam được ghi chép như một dải ven biển ở bên ngoài bản đồ Trung Quốc, nơi triều đình nhà Minh “biết đến” nhưng không thể “quản đến”. Danh xưng Quảng Nam quốc được người nước ngoài dùng để xưng gọi Quảng Nam, kéo dài từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII.

Danh xưng Quảng Nam không chỉ là tên gọi, mà là tấm gương phản chiếu thực thể vùng địa lý qua từng thời kỳ. Khi giao lưu đường biển, Quảng Nam là hải cảng. Khi biên giới bất ổn, Quảng Nam là tuyến phòng thủ quan trọng. Khi bản đồ được vẽ từ triều Minh, Quảng Nam là vùng đất ngang hàng với lãnh thổ Trung Quốc. Sự đa diện ấy vừa cho thấy tầm quan trọng của vùng đất Quảng Nam, vừa nhắc chúng ta rằng lịch sử địa danh luôn đi cùng với lịch sử nhìn nhận vùng đất ấy.

NGUYỄN DỊ CỔ

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/quang-nam-luu-trong-sach-co-3338764.html