Khơi thông nguồn lực, bứt tốc hai con số
Tăng trưởng kinh tế 2 con số không chỉ là một chỉ tiêu mang tính định lượng, mà là lời giải cho một bài toán tổng hợp, từ mô hình tăng trưởng, năng suất, khoa học - công nghệ, đến phân bổ nguồn lực và năng lực chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Trong bối cảnh thế giới biến động khó lường, câu hỏi đặt ra là: Nền kinh tế Việt Nam dựa vào đâu để tăng tốc, bứt phá mạnh hơn?

Bước sang năm 2026, kinh tế Việt Nam xác định mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên.
Một giai đoạn hành động mạnh mẽ hơn
Sáng 31/3, tại Hà Nội, hội thảo “Động lực cho tăng trưởng kinh tế hai con số và triển vọng nông nghiệp 2026” ghi nhận nhiều ý kiến cho thấy để đạt tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam không chỉ cần thêm nguồn lực, mà quan trọng hơn là phải tháo gỡ những điểm nghẽn mang tính cấu trúc.
Bước sang năm 2026, mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên được xác định như một “mệnh lệnh hành động”. Các kịch bản tăng trưởng đã được thiết kế, áp lực cụ thể giao xuống từng địa phương. Nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á nhờ năng lực sản xuất cạnh tranh, xuất khẩu bền vững, dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mạnh và sức cầu nội địa cải thiện. Tuy nhiên, các “làn gió ngược” như xung đột tại Trung Đông hay những rào cản thuế quan mới từ các thị trường lớn đang gây sức ép không nhỏ.
Do vậy, nếu muốn hiện thực hóa mục tiêu đầy tham vọng, Việt Nam không thể lặp lại mô hình tăng trưởng cũ dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ. Thay vào đó, nền kinh tế cần kiến tạo những động lực tăng trưởng mới mang tính hiện đại, bền vững, gắn với kỷ nguyên số và kỷ nguyên xanh, đồng thời tận dụng tối đa cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế.
Chuyên gia kinh tế - TS Cấn Văn Lực nhận định, tăng trưởng là câu chuyện dài hạn. Chính vì vậy, chúng ta phải làm đồng thời hai việc: Vừa đổi mới mô hình tăng trưởng để đạt tốc độ cao (đó là điều kiện cần) vừa phải đảm bảo tính bền vững (đó là điều kiện đủ). Tinh thần này cũng hoàn toàn phù hợp với bốn quan điểm mà Tổng Bí thư đã nêu tại Hội nghị Trung ương 2, gắn với Nghị quyết 66.
TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đã bước ra khỏi giai đoạn “bình thường mới” - một trạng thái từng giúp trấn an tâm lý trong khủng hoảng - để chuyển sang thời kỳ phục hồi và phát triển với yêu cầu hành động mạnh mẽ hơn. Theo ông Thành, ngay cả kịch bản tăng trưởng được xem là “thấp” nhất ở mức 8% cũng đã là mục tiêu rất thách thức trong bối cảnh thế giới đầy biến động. Vì vậy, những kịch bản tăng trưởng không nên được hiểu theo cách “thấp - trung bình - cao” mà cần nhìn nhận là “cao thấp, cao vừa và cao nhất” để phản ánh đúng mức độ nỗ lực của nền kinh tế.

Công nghệ là yếu tố quyết định trong việc tạo ra bứt phá tăng trưởng.
“Mục tiêu phát triển không chỉ được đo bằng các con số tăng trưởng mà còn nằm ở chất lượng của sự phát triển: bền vững, đổi mới sáng tạo, khả năng chống chịu và mức độ tự chủ, đặc biệt trong công nghệ và chuỗi cung ứng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tăng trưởng nóng kéo dài dễ dẫn đến rủi ro vĩ mô, gia tăng bất bình đẳng và gây sức ép lên môi trường. Trong khi đó, thu hút vốn đầu tư thường dễ dàng hơn rất nhiều so với việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo thực chất, nhất là khi doanh nghiệp khó tiếp cận công nghệ lõi” - ông Thành nhận định.
Dẫu vậy, theo vị chuyên gia, Việt Nam vẫn có cơ sở vững chắc để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao. Nền tảng đầu tiên là “khát vọng” – khát vọng vươn lên trở thành nước thu nhập cao. Nền tảng thứ hai là “thiên thời” đến từ Cách mạng Công nghiệp 4.0, lần đầu tiên mang đến cho Việt Nam cơ hội làm chủ công nghệ dựa trên lợi thế lao động linh hoạt, tư duy logic và khả năng thích ứng nhanh.
Tuy nhiên, nhiều rủi ro vẫn hiện hữu và có thể tác động mạnh đến ổn định kinh tế, như xu hướng phân mảnh thương mại, sự gia tăng các hàng rào thuế quan hay nguy cơ lạm phát leo thang do xung đột khu vực, kéo theo áp lực về tỷ giá và lãi suất. Để vừa ứng phó những bất định ngắn hạn, vừa theo đuổi mục tiêu tăng trưởng dài hạn, ông Thành cho rằng Việt Nam cần tập trung vào 4 hướng chính sách cốt lõi, bao gồm linh hoạt trong quan hệ kinh tế đối ngoại; củng cố ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát, tỷ giá, lãi suất; hỗ trợ thị trường và doanh nghiệp nhằm phục hồi sản xuất và đột phá thể chế thông qua cải cách hành chính và hoàn thiện khung pháp lý, trong đó có các chính sách về FDI.
Bên cạnh các giải pháp chính sách, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn dư địa lớn nếu biết cách khai thông. Một lượng tiền nhàn rỗi rất lớn trong dân – ước tính hàng chục tỷ USD vẫn chưa được chuyển hóa thành nguồn lực sản xuất và cần được điều hướng phù hợp. Đồng thời, việc tháo gỡ các vướng mắc pháp lý để khơi thông từ 800 đến 1.000 dự án đang đình trệ sẽ giúp bơm hàng trăm nghìn tỷ đồng vào nền kinh tế, tạo cú hích đáng kể cho tăng trưởng trong ngắn hạn và trung hạn.
Bài toán của tư duy và hành động
Theo TS Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Công nghệ Tài chính, Trường Đại học Đại Nam, để đạt tăng trưởng cao, Việt Nam cần khai thác hiệu quả các động lực mới, đặc biệt là khoa học công nghệ và nguồn nhân lực.
Theo ông Đức, kinh nghiệm quốc tế chỉ rõ, công nghệ là yếu tố quyết định trong việc tạo ra bứt phá tăng trưởng. Nền kinh tế Trung Quốc, nếu không có sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, khó có thể rút ngắn khoảng cách với các quốc gia phát triển.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ vẫn còn khoảng cách đáng kể, đặc biệt là trong việc kết nối giữa chuyên gia công nghệ và lĩnh vực tài chính, khiến nhiều sản phẩm chưa thực sự hiệu quả.
Ông Đức nhấn mạnh, một trong những điểm nghẽn lớn là khả năng tiếp cận tài chính, đặc biệt ở khu vực nông nghiệp và nông thôn. Việt Nam không thiếu nguồn vốn nhưng lại thiếu cơ chế và phương thức để người dân, nhất là nông dân, tiếp cận được nguồn lực này một cách hiệu quả. Điều này làm hạn chế khả năng chuyển hóa nguồn lực tài chính thành động lực tăng trưởng thực sự.
Từ đó, ông Đức cho rằng phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là đào tạo nhiều mà là đào tạo đúng. Việc đào tạo cần gắn với khả năng ứng dụng thực tế, giúp người học có thể giải quyết các bài toán cụ thể, đặc biệt là trong việc kết nối công nghệ với tài chính và sản xuất.
Ông Đức cũng chỉ ra một thực tế, dù chính sách đã dành nguồn lực lớn cho khoa học công nghệ, nhưng phần lớn vẫn tập trung vào nghiên cứu, trong khi đầu tư cho đào tạo con người còn hạn chế. Điều này tạo ra độ trễ trong quá trình chuyển hóa công nghệ thành năng lực thực tế của nền kinh tế.
Theo TS Đặng Ngọc Đức, để đạt tăng trưởng hai con số, cần ưu tiên phát triển hệ sinh thái đào tạo đồng bộ, trong đó chú trọng kỹ năng ứng dụng công nghệ, quản trị tài chính và quản trị rủi ro. Đặc biệt, cần hướng tới việc giúp người dân, nhất là khu vực nông thôn, có khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả các công cụ tài chính hiện đại. “Nếu không hành động sớm và quyết liệt trong đào tạo và ứng dụng công nghệ, độ trễ sẽ ngày càng lớn, làm giảm cơ hội đạt được mục tiêu tăng trưởng cao trong dài hạn” - ông Đức nhấn mạnh.
Giới chuyên gia nêu quan điểm, mục tiêu tăng trưởng hai con số không phải nằm ngoài tầm với. Điều quan trọng là Việt Nam phải thay đổi tư duy, chiến lược và hành động, ban hành những chính sách đột phá và tạo được sự phối hợp hiệu quả giữa các thành phần kinh tế.
Vì mục tiêu tăng trưởng bền vững, Việt Nam cần đặt trọng tâm vào một số động lực chủ chốt như thúc đẩy đầu tư tư nhân chất lượng cao; chuyển dịch lao động sang các khu vực có năng suất cao hơn; khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA… đồng thời thu hút dòng vốn đầu tư công nghệ cao gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển năng lượng bền vững.

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam: Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là thị trường vốn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong việc tạo niềm tin cho nhà đầu tư.
Dù nguồn vốn trong nền kinh tế không thiếu, nhưng việc phân bổ và dẫn dắt dòng vốn vẫn còn nhiều hạn chế. Thị trường vốn chưa thực sự hiệu quả khiến dòng tiền chưa chảy vào đúng các lĩnh vực cần thiết, từ đó ảnh hưởng đến khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng cao.
Một vấn đề đáng chú ý khác là tình trạng tồn đọng vốn và tài sản trong các dự án khiến nguồn lực không được khai thác hiệu quả. Nếu các “điểm nghẽn” này không được xử lý, dòng vốn sẽ tiếp tục bị ngưng đọng, làm giảm hiệu quả chung của nền kinh tế.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần đồng thời giải quyết các vấn đề về thị trường vốn, khả năng tiếp cận tài chính, hiệu quả phân bổ nguồn lực và nâng cao giá trị gia tăng trong các ngành kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/khoi-thong-nguon-luc-but-toc-hai-con-so.html











