Kinh tế tư nhân chờ cú hích từ vốn

Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Để hiện thực hóa điều này, điểm nghẽn thể chế phải được tháo gỡ, thị trường vốn phải phát triển cân bằng hơn, còn doanh nghiệp cần môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và có thể dự báo.

Cần ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước và các kênh huy động vốn dài hạn, từng bước giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Ảnh: PV

Cần ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước và các kênh huy động vốn dài hạn, từng bước giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Ảnh: PV

Từ chủ trương lớn đến áp lực nguồn vốn

Theo nhìn nhận của nhiều chuyên gia, bài toán tăng trưởng 2 con số đặt ra nhu cầu nguồn lực lớn. Để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, quy mô vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, ngân sách nhà nước cũng chỉ đáp ứng khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, tương đương 20-22% tổng nhu cầu. Phần còn lại phải được khơi thông từ khu vực kinh tế tư nhân và thu hút đầu tư nước ngoài.

Nghị quyết số 68-NQ/TW năm 2025 của Bộ Chính trị được nhìn nhận là bước ngoặt về tư duy phát triển khi xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Tiếp đó, Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội về phát triển kinh tế tư nhân tiếp tục tạo khuôn khổ chính sách để khu vực này mở rộng quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng.

Tuy nhiên, từ chủ trương đến thực tiễn vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhận định, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đã phát triển mạnh về số lượng nhưng chưa lớn về tầm vóc, cốt lõi nằm ở cấu trúc “đông về lực lượng nhưng nhỏ về quy mô”. Ông dẫn số liệu từ báo cáo kinh tế tư nhân năm 2025 cho thấy, trong hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, 96,6% là doanh nghiệp tư nhân, hơn 80% có quy mô dưới 50 lao động và hơn 70% có vốn dưới 10 tỷ đồng. Quy mô nhỏ khiến nhiều doanh nghiệp khó tích lũy vốn, khó mở rộng sản xuất, chậm cải thiện năng suất và khó tham gia sâu vào chuỗi giá trị.

TS.Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho rằng, điểm nghẽn tiếp theo nằm ở thể chế và thủ tục hành chính. Thủ tục còn kéo dài, một số quy định chồng chéo, thiếu thống nhất, trong khi tâm lý e ngại trong thực thi công vụ ảnh hưởng đến tiến độ nhiều dự án. Ông cho rằng, điều doanh nghiệp cần không chỉ là ưu đãi, mà quan trọng hơn là một môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, có thể dự báo và thực thi nhất quán. Một nền kinh tế muốn bứt phá tốc độ thì hệ thống quản lý và thực thi thủ tục cũng cần phải chuyển động đồng tốc, hiệu quả và an toàn.

Giảm lệ thuộc tín dụng, mở rộng thị trường vốn

Một vấn đề đáng chú ý là quy mô tín dụng toàn hệ thống trên GDP của Việt Nam đã lên tới khoảng 150%, mức rất cao so với nhiều quốc gia. Ông Hùng cho rằng, dường như các NHTM đang phải “ôm” cả vai trò của thị trường vốn khi sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn.

Từ phía NHNN, ông Đào Văn Hà, Phó vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - ổn định tiền tệ tài chính cũng xác nhận, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam hiện thuộc nhóm cao nhất thế giới trong số các nền kinh tế đang phát triển. Trong khi đó, thị trường vốn vẫn chưa phát triển tương xứng, khiến gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế chủ yếu dồn lên hệ thống ngân hàng. Ông dẫn chứng, đến cuối năm 2025, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt khoảng 1,2 triệu tỷ đồng, tương đương 9% GDP; vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 10 triệu tỷ đồng, bằng 78% GDP. Các con số này cho thấy nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng.

“Tín dụng đang phải đảm nhận vai trò quá lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là vốn trung và dài hạn”, ông Hà cho hay và lưu ý đây là yếu tố tiềm ẩn nhiều rủi ro về thanh khoản và kỳ hạn, bởi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là ngắn hạn nhưng lại phải đáp ứng nhu cầu vay trung và dài hạn ngày càng lớn của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Ông cũng cho biết, Kết luận số 18 của Trung ương đã xác định yêu cầu ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước và các kênh huy động vốn dài hạn, từng bước giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. “Việt Nam cần đẩy mạnh thu hút các dòng vốn chất lượng cao từ bên ngoài thông qua đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và các khoản vay nước ngoài. Đây là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế giai đoạn 2025-2030 và tầm nhìn đến năm 2045”, ông Hà nhấn mạnh.

Ông Võ Anh Tuấn, Phó cục trưởng Cục Quản lý đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường dẫn chứng một dòng vốn khác cũng cần được khơi thông là nguồn lực đang bị “chôn” trong các dự án bất động sản treo, quỹ đất vướng mắc pháp lý, các dự án nằm trong kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc bản án kéo dài. Đây là nguồn lực lớn của khu vực tư nhân và nền kinh tế, nếu được xử lý đúng nguyên tắc, có thể nhanh chóng trở lại vận hành, tạo thêm cung cho thị trường và đóng góp cho tăng trưởng.

Ông Tuấn nhìn nhận, tinh thần xử lý là không cầu toàn, mà phân loại từng nhóm vướng mắc để có giải pháp phù hợp. “Nguyên tắc là không hợp thức hóa sai phạm, nhưng đảm bảo cái gì có thể giải quyết ngay được thì sẽ giải quyết ngay để kịp thời khơi thông nguồn lực”, ông nêu vấn đề.

Tháo nghẽn thể chế vì vậy không chỉ là sửa một vài thủ tục, mà là mở đường cho nguồn lực xã hội được lưu chuyển hiệu quả hơn. Khi vốn được dẫn đúng kênh, đất đai được đưa trở lại sản xuất kinh doanh, thị trường vốn phát triển cân bằng và doanh nghiệp được vận hành trong môi trường pháp lý ổn định, kinh tế tư nhân mới có thể trở thành một động lực quan trọng nhất cho mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.

Hơn 3 triệu tỷ đồng đang ứ đọng trong các dự án bất động sản

Bà Hoàng Thu Hằng, Phó cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng:

Hơn 3 triệu tỷ đồng đang bị ứ đọng tại khoảng 4.500 dự án vướng mắc. Việc tháo gỡ cho 1.025 dự án đã khơi thông khoảng 800.000 tỷ đồng, cho thấy cải cách thủ tục, xử lý pháp lý và minh bạch thị trường có tác động trực tiếp đến dòng vốn tư nhân. Không chỉ giải phóng nguồn lực xã hội, quá trình này còn giúp bổ sung nguồn cung nhà ở, kéo giảm giá và nâng khả năng tiếp cận của người dân. Cùng với chuyển đổi số, mã định danh bất động sản và chính sách phát triển nhà ở cho thuê, dòng vốn tư nhân có thể vận hành hiệu quả, an toàn hơn.

Muốn vay vốn, doanh nghiệp phải minh bạch tài chính

Ông Bùi Thế Anh, Giám đốc Chiến lược và thực thi EY Việt Nam:

Vấn đề vốn cho kinh tế tư nhân không chỉ đến từ phía ngân hàng hay thị trường tài chính, mà còn bắt nguồn từ chính nội lực doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp gặp khó khi chứng minh dòng tiền với ngân hàng do số liệu tài chính, kế toán chưa thật sự minh bạch. Báo cáo tài chính thiếu sức thuyết phục khiến các tổ chức cấp vốn như ngân hàng, quỹ đầu tư hay nhà đầu tư bên ngoài e ngại. Bên cạnh đó, năng lực quản trị tài chính của phần lớn doanh nghiệp còn hạn chế, chưa đủ rõ ràng để xây dựng phương án huy động vốn tin cậy. Cấu trúc nợ cũng là điểm yếu khi có tình trạng “lấy ngắn cắn dài”, sử dụng vốn chưa đúng mục đích. Những yếu tố này liên kết với nhau, làm doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn mới.

Không thiếu vốn, doanh nghiệp cần nâng chất quản trị

Ông Phạm Văn Quân, Phó cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương):

Nhiều doanh nghiệp hiện không hẳn thiếu vốn, bởi không ít đơn vị vẫn có khả năng đầu tư. Vấn đề lớn hơn nằm ở năng lực quản trị và khả năng duy trì chất lượng sản phẩm ổn định khi tham gia chuỗi cung ứng. Thực tế, có doanh nghiệp những năm đầu cung cấp sản phẩm đạt chuẩn, nhưng sau đó chất lượng phập phù do quản lý chuỗi chưa tốt. Với đối tác nước ngoài, chỉ một lần không bảo đảm chất lượng, doanh nghiệp có thể bị đưa ra khỏi chuỗi, dù trước đó phải mất 3-5 năm chuẩn bị, đổi mới công nghệ và quy trình quản lý. Vì vậy, bên cạnh vốn, doanh nghiệp cần nâng cao quản trị, kiểm soát chất lượng và giữ uy tín dài hạn để không đánh mất cơ hội trong chuỗi cung ứng.

Thái Hoàng

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/kinh-te-tu-nhan-cho-cu-hich-tu-von-183391.html