[Kỳ 3] Khu kinh tế biển TP. Hồ Chí Minh: Cần bảo đảm khả thi tín dụng và đầu tư

Với nhu cầu vốn lên tới hàng chục tỷ USD cho hệ sinh thái cảng biển, thành phố cảng và các dự án hạ tầng liên quan, bài toán tài chính đang được đặt ra ngay trong quá trình góp ý lập quy hoạch Khu kinh tế biển TP. Hồ Chí Minh...

Quy hoạch Khu kinh tế Biển TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Nguyệt Hà.

Quy hoạch Khu kinh tế Biển TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Nguyệt Hà.

Các chuyên gia cho rằng thay vì lập quy hoạch rồi mới tìm vốn, TP. Hồ Chí Minh cần chuẩn bị ngay danh mục dự án đủ khả thi tín dụng, khả thi đầu tư, phù hợp tiêu chuẩn quốc tế và có thể tiếp cận các nguồn vốn Nhật Bản, ODA, IFC (Tổ chức Tài chính Quốc tế) cũng như dòng vốn quốc tế.

Ông Lâm Xuân Minh, Giám đốc Vietcombank Long Thành, cho rằng nếu cảng biển được xem là cửa ngõ hàng hóa của TP. Hồ Chí Minh, thì thành phố cần hình thành thêm một cửa ngõ khác: "Cửa ngõ cho tiền ra vào".

TỪ “CỬA NGÕ HÀNG HÓA” ĐẾN “CỬA NGÕ CỦA DÒNG TIỀN”

Theo ông Minh, Tân Sơn Nhất hiện là cửa ngõ cho người và Long Thành sẽ đảm nhận vai trò ngày càng lớn trong tương lai. Phú Mỹ - Cái Mép là cửa ngõ hàng hóa. Nhưng để thực hiện các mục tiêu phát triển dài hạn, TP. Hồ Chí Minh phải có khả năng thu hút dòng vốn quốc tế.

Nguồn tiền trong nước có giới hạn, trong khi dòng vốn toàn cầu lên tới hàng chục nghìn tỷ USD. Vấn đề không phải thế giới thiếu tiền, mà là các dự án Việt Nam hiện vẫn được chuẩn bị theo những tiêu chuẩn khiến việc tiếp cận nguồn vốn quốc tế gặp hạn chế.

Do đó, ông Minh cho rằng bài toán tài chính, tính khả thi tín dụng (bankable) và tính khả thi đầu tư (investable) phải được đặt ngay từ quá trình quy hoạch.

Đây cũng là điểm mà tư vấn BCG (một trong 3 tư vấn xây dựng Quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh thời kỳ 2025–2050, tầm nhìn 100 năm) đã nhấn mạnh trong quá trình tư vấn: một định hướng quy hoạch chỉ thực sự có giá trị khi có thể đưa Thành phố tiến gần hơn tới những dự án đủ điều kiện huy động vốn.

Đối với kinh tế biển, quy mô vốn cần thiết không nhỏ. Theo tính toán của ông Minh, dự án cảng biển cần khoảng 40–50 tỷ USD, trong khi hệ sinh thái thành phố sân bay trước đây được ước tính khoảng 60 tỷ USD. Quá trình phát triển những hệ sinh thái này có thể mất 5–10 năm. Chẳng hạn, đối với Long Thành, dự án sân bay đã thu xếp được khoảng 5,5 tỷ USD, trong khi phía hàng không cùng các đối tác thu xếp khoảng 1,8 tỷ USD. Tuy nhiên, hệ sinh thái xung quanh sân bay vẫn chưa hình thành đầy đủ và được ước tính khoảng 60 tỷ USD.

Từ kinh nghiệm đó, ông Minh cho rằng hệ sinh thái Phú Mỹ - Cái Mép cũng cần được nhìn rộng hơn. Hiện nay, khu vực này chủ yếu mới tập trung vào hàng hóa và logistics. Trong khi đó, một Maritime/Seaport City (thuộc về biển, hàng hải hoặc gần biển/Thành phố hải cảng) theo tầm nhìn dài hạn có thể cần quy mô khoảng 50–60 tỷ USD, chứ không chỉ dừng ở trung chuyển hàng hóa. Để thu hút nguồn vốn cho quy mô như vậy, cần một tầm nhìn quy hoạch đủ lớn, thậm chí mang tầm quốc gia, để tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

DÒNG TIỀN QUỐC TẾ TÌM KIẾM ĐIỀU GÌ?

Theo ông Minh, đối với các quỹ đầu tư, câu hỏi quan trọng nhất là dòng tiền sẽ đi vào dự án nào, chủ đầu tư nào và chủ đầu tư đó có rating, ranking ra sao. Nói cách khác, nhà đầu tư không chỉ nhìn một quy hoạch tổng thể, mà cần nhìn thấy tài sản đầu tư cụ thể, cấu trúc dự án cụ thể và chủ thể chịu trách nhiệm triển khai. Đây là lý do bài toán danh mục dự án được đặt song song với quy hoạch.

Ông Tyler B.McElhaney, Giám đốc vùng Việt Nam của Quỹ đầu tư Apex

"Từ góc độ nhà đầu tư quốc tế, bài toán thu hút đầu tư tài chính không chỉ là câu chuyện của một dự án cảng biển hay một địa phương, mà là một chuỗi các câu chuyện phát triển của Việt Nam, bao gồm Seaport City (Thành phố hải cảng), mô hình đô thị sân bay Long Thành, tài chính, nông nghiệp, xếp hạng tín nhiệm, bảo hiểm, quản lý tài sản, ngân hàng và nguồn nhân lực".

Theo ông Tyler B.McElhaney, những cấu phần này không thể thành công nếu đứng riêng lẻ, mà cần kết nối và hỗ trợ lẫn nhau. Điều này đặc biệt quan trọng với câu chuyện trung tâm tài chính quốc tế.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy có những trung tâm tài chính không đạt được kỳ vọng, trong khi Singapore và Dubai là những trường hợp thành công.

"Tài chính và Trung tâm tài chính TP HCM phải thực sự phục vụ cho Việt Nam, với một giải pháp mang tính quốc tế nhưng “cốt lõi phải là Việt Nam”. Mục tiêu không chỉ là thu hút nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam mà còn phải tạo ra những giải pháp do Việt Nam xây dựng và làm chủ, qua đó giữ lại giá trị và năng lực trong nước", Giám đốc vùng Việt Nam của Quỹ đầu tư Apex nhận định.

“CHUẨN” ĐỂ MỞ CỬA DÒNG VỐN

Một hướng tiếp cận cụ thể được ông Kito, chuyên gia đầu tư từ Nhật Bản, đưa ra là nghiên cứu khả năng sử dụng IFC, JICA và nguồn vốn ODA cho các dự án liên quan.

Theo ông Kito, trước hết Thành phố có thể lựa chọn một dự án có khả năng nhận hỗ trợ của JICA thông qua nguồn vốn ODA. Dự án có sự tham gia của IFC, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI), các cơ quan xúc tiến đầu tư của Nhật Bản và ngân hàng Nhật Bản. Phía IFC cũng sẽ xem xét khả năng chuẩn bị hồ sơ để tiếp cận nguồn hỗ trợ ODA của JICA.

Tuy nhiên, ODA không phải là nguồn vốn có thể tiếp cận một cách đơn giản. Ông Kito cho biết quy trình phức tạp và dự án phải được chuẩn bị phù hợp với yêu cầu, tiêu chí của nguồn vốn ODA. Đồng thời đề xuất bước đầu tiên là cần liên hệ và làm việc với JICA để xem xét dự án trong khuôn khổ hỗ trợ ODA.

Từ phía Việt Nam, ông Minh cho biết Nhật Bản hiện nằm trong top 3 nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam, với quy mô đầu tư khoảng 80 tỷ USD; nếu tính cả ODA, hỗ trợ phát triển chính thức và các khoản vay, quy mô liên quan tới Nhật Bản khoảng 100 tỷ USD.

Việt Nam trước đây chủ yếu tiếp cận ODA thế hệ cũ theo mô hình các khoản vay tài chính, trong đó có các dự án như Metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên. Thời gian gần đây hợp tác ODA giữa Nhật Bản và Việt Nam hiện đang được nâng cấp, tạo khả năng triển khai nhiều dự án hơn trong khuôn khổ hợp tác mới. Tuy nhiên, muốn tiếp cận nguồn vốn này, chất lượng chuẩn bị dự án là yếu tố quyết định. Và các công trình hạ tầng muốn tiếp cận nguồn vốn và nguồn lực quốc tế cần được chuẩn bị bởi các công ty tư vấn chuyên ngành và chuyên sâu.

Trong khi đó, các chương trình như Global South và AZEC của Nhật Bản mở ra nguồn lực đáng kể cho phát triển xanh, khu công nghiệp xanh, công trình xanh và các tiêu chuẩn liên quan. Nhưng theo ông Minh, nhiều nhà đầu tư Việt Nam chưa hiểu và chưa tiếp cận được những chương trình này.

Một khi hình thành được tiêu chuẩn, framework (khuôn khổ) và mô thức dự án phù hợp, khả năng kết nối với dòng vốn Nhật Bản có thể được cải thiện. Dẫn chứng từ việc thu xếp vốn quốc tế các trường hợp như Nishi-Nippon Railroad, Hankyu và Becamex... để cho thấy sự tham gia của các tập đoàn Nhật Bản vào các dự án tại Việt Nam và xu hướng hình thành thị trường M&A, ông Minh nhận định: “Khi dự án được chuẩn hóa về tiêu chuẩn và mô hình, Chính phủ Nhật Bản có thể thuận lợi hơn trong việc thu xếp nguồn vốn; đồng thời, các ngân hàng thương mại Việt Nam như Vietcombank và các đối tác trong nước có thể tham gia hợp vốn hoặc tài trợ dự án”.

Vấn đề này càng rõ khi nhìn vào chi phí vốn trong nước. Ông Minh đưa ra ví dụ, một nhà đầu tư đang triển khai dự án nút giao có tổng vốn khoảng hơn 2 tỷ USD. Nếu phải vay trong nước với lãi suất khoảng trên 10%, thời gian hoàn vốn có thể kéo dài vài chục năm. Do đó, nếu những dự án hạ tầng lớn bị “ngâm” bởi chi phí vốn cao, quy hoạch có tầm nhìn 100 năm cũng khó chuyển thành hiện thực. Điều đó cho thấy bài toán vốn không thể tách khỏi cách thiết kế dự án ngay từ đầu.

"Không chỉ cần biết dự án cần bao nhiêu tiền, Thành phố còn phải trả lời được nguồn tiền nào phù hợp, cấu trúc tài chính ra sao, nhà đầu tư nào có thể tham gia và tiêu chuẩn nào giúp dự án tiếp cận nguồn vốn đó", ông Minh nhấn mạnh.

“4L” CỦA FDI VÀ “3N” CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC

Chỉ ra bốn nhóm trở ngại đối với nhà đầu tư FDI tại Việt Nam, ông khái quát thành 4 chữ L:Legal – pháp lý; Land – đất đai; Labor – lao động; Logistics – logistics.

Bên cạnh dòng FDI trực tiếp, ông cho rằng còn phải tính tới dòng vốn đầu tư gián tiếp thông qua thị trường vốn, chứng khoán, quỹ đầu tư, công ty quản lý vốn và các định chế tài chính.

Đối với nhà đầu tư trong nước, ông khái quát ba yếu tố thành 3 chữ N: Nguồn – nguồn lực; Người – con người; Nghệ – công nghệ.

Như vậy, thu hút vốn cho Khu kinh tế biển không chỉ là bài toán xúc tiến đầu tư. Đó còn là bài toán tháo gỡ đồng thời các điều kiện để nhà đầu tư có thể triển khai dự án.

Từ góc độ nghiên cứu, ông Phạm Bình An, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HIDS) cho rằng đầu ra quan trọng của Đề án phải là danh mục tiếp cận các nhà đầu tư và các nhà đầu tư mục tiêu. Sau khi tập hợp các ý kiến, HIDS sẽ báo cáo UBND Thành phố để chỉ đạo các sở, ngành phối hợp xây dựng danh mục này.

Ông Phạm Bình An, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HIDS).

"Đây là một trong những yếu tố quyết định thành công của Đề án. Nếu quy hoạch được nghiên cứu công phu nhưng chỉ “nằm trên bàn”, không chuyển thành dự án và không đi vào cuộc sống thì Đề án sẽ không đạt mục tiêu. Lâu nay, quy trình thường là lập dự án, xác định ranh giới, cấu trúc tài chính, sau đó mới hỏi dự án có hấp dẫn nhà đầu tư hay không. Nhưng nếu đến thời điểm đó mới đặt câu hỏi về khả năng hấp dẫn thì đã quá muộn để điều chỉnh. Cách làm mới là phải đặt những câu hỏi về khả thi, hấp dẫn, tài chính và nhà đầu tư ngay từ đầu, trước khi quy hoạch được phê duyệt, để vẫn còn khả năng điều chỉnh".

"Đây là một trong những yếu tố quyết định thành công của Đề án. Nếu quy hoạch được nghiên cứu công phu nhưng chỉ “nằm trên bàn”, không chuyển thành dự án và không đi vào cuộc sống thì Đề án sẽ không đạt mục tiêu", ông lưu ý; đồng thời cho biết lâu nay quy trình thường là lập dự án, xác định ranh giới, cấu trúc tài chính, sau đó mới hỏi dự án có hấp dẫn nhà đầu tư hay không. Nhưng nếu đến thời điểm đó mới đặt câu hỏi về khả năng hấp dẫn thì đã quá muộn để điều chỉnh. Cách làm mới là phải đặt những câu hỏi về khả thi, hấp dẫn, tài chính và nhà đầu tư ngay từ đầu, trước khi quy hoạch được phê duyệt, để vẫn còn khả năng điều chỉnh. 

Ở tầng sâu hơn, bài toán thu hút vốn còn gắn với không gian và quy mô thị trường. Ông Tyler B.McElhaney cho rằng các câu chuyện phát triển của phía Nam phải được kết nối từ Tây Ninh, Cần Thơ, Long An, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu rồi mở rộng ra miền Trung và miền Bắc.

“Không dự án riêng lẻ nào có thể tự thành công. Thành phố hải cảng, đô thị sân bay Long Thành, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, quản lý tài sản, nông nghiệp và nguồn nhân lực phải tạo thành một hệ thống bổ trợ lẫn nhau. Với Khu kinh tế biển, điều này có nghĩa là không thể chỉ mời gọi một nhà đầu tư xây cảng, rồi kỳ vọng hệ sinh thái tự hình thành. Cần đồng thời chuẩn bị các dự án logistics, công nghiệp, đô thị, tài chính, năng lượng, dữ liệu và dịch vụ hỗ trợ, cùng một cấu trúc hạ tầng và tài chính đủ sức kết nối chúng”, ông Tyler nhấn mạnh.

Đây cũng là lý do ông Minh cho rằng TP. Hồ Chí Minh cần hình thành “cửa ngõ cho tiền”, trong khi ông Kito nhấn mạnh việc chuẩn bị dự án theo tiêu chuẩn ODA và nhà đầu tư Nhật Bản, còn ông Tyler đặt vấn đề trong một hệ sinh thái đầu tư rộng hơn.

Nguyệt Hà

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/ky-3-khu-kinh-te-bien-tp-ho-chi-minh-can-bao-dam-kha-thi-tin-dung-va-dau-tu.htm