Lần theo một 'dị bản' lò vôi

'Gió Nam thổi xuống lò vôi', chữ 'lò vôi' viết thường hay viết hoa (Lò Vôi) trong câu ca dao có nhiều dị bản đôi khi lại gợi nhớ những địa danh, vùng đất cũ.

Vùng Nại Hiên ngày nay. ẢNH: THUẬN TRIỀU

Vùng Nại Hiên ngày nay. ẢNH: THUẬN TRIỀU

“Gió Nam thổi xuống lò vôi”, chữ “lò vôi” viết thường hay viết hoa (Lò Vôi) trong câu ca dao có nhiều dị bản đôi khi lại gợi nhớ những địa danh, vùng đất cũ.

Gió Nam thổi xuống…

“Gió Nam thổi xuống lò vôi/ Ai đồn với bạn ta có đôi để bạn buồn/ Dừng chân bước xuống ghe buôn/ Sóng bao nhiêu dợn, dạ anh buồn bấy nhiêu…”, 4 câu đầu khá quen thuộc này thấy xuất hiện ở nhiều biên khảo. Hai câu kế tiếp có một số thay đổi nhỏ, thí dụ: “Cánh buồm thổi gió hiu hiu/ Buồm xiêu cũng mặc, tình yêu ta trọn niềm”, “Cánh buồm gió thổi hiu hiu/ Nước mắt ra chàng chặm bốn múi dây lưng điều không khô”, “Cạnh/cánh buồm gió thổi hiu hiu/ Nước mắt rơi chàng chậm dây lưng điều không khô”…

Nhiều công trình nghiên cứu khi nhắc câu ca dao này đều liên tưởng đến hình ảnh lò vôi và nghề làm vôi truyền thống ở Thanh Hà (Hội An, Quảng Nam cũ). Lại có cách lý giải khác, mở rộng địa bàn hơn ra cả miền Trung.

Sau nhiều năm sưu tầm, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Bổn (Tần Hoài Dạ Vũ) xếp câu ca này ở mục hát nhân ngãi, trong tập 1 Văn học dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng (vùng đồng bằng). Sang đến tập 3 (miền biển), câu ca này được nhắc lại nhưng có chút khác biệt khi không có 2 câu đầu và lại xếp vào mục hát ru. Hát rằng: “Con ơi đừng khóc con nghe/ Cha con đứt từng đoạn ruột, mẹ lòng nghe thảm sầu/ Bảy giờ mai chàng bước xuống tàu/ Sóng bao nhiêu dợn dạ chàng sầu bấy nhiêu/ Cánh buồm gió thổi hiu hiu/ Nước mắt ra chàng chặm bốn múi dây lưng điều không khô…” (NXB Hội Nhà văn 2018, trang 338).

Tranh vẽ về vịnh Đà Nẵng năm 1831 (in trong cuốn Lịch sử Đà Nẵng 1306-1975) cho thấy hình ảnh ghe thuyền, vách núi... Ảnh: Tư liệu

Tranh vẽ về vịnh Đà Nẵng năm 1831 (in trong cuốn Lịch sử Đà Nẵng 1306-1975) cho thấy hình ảnh ghe thuyền, vách núi... Ảnh: Tư liệu

Dấu vết lò vôi

Thật thú vị khi có nhà nghiên cứu viết hoa 2 chữ “Lò Vôi” và khẳng định địa danh cụ thể với ghi chú: “Vùng Nại Hiên Tây bây giờ. Ngày xưa ở đó có nhiều lò nung vôi hàu”. Chỉ 16 chữ có thể gợi nhớ cảnh trí của vùng đất ở hữu ngạn sông Hàn, Đà Nẵng.

Trong chương VII (Đà Nẵng dưới thời các vua đầu Nhà Nguyễn) cuốn Lịch sử Đà Nẵng 1306 - 1975, nhà nghiên cứu Võ Văn Dật trích dẫn những câu lục bát này để mở đầu chương sách. Trong đó, ông viết hoa chữ “Lò Vôi” và ghi rõ đấy là “ca dao Đà Nẵng”.

Bàn về chuyện thương mãi của cư dân Đà Nẵng lúc ấy, nhà nghiên cứu Võ Văn Dật cho rằng, chỉ có thể quanh quẩn trong việc trao đổi, mua bán những sản vật nhu yếu hằng ngày, do địa phương tự cung tự cấp. Nếu có tiến xa hơn thì có thể là đi đến các vùng khác trong tỉnh hoặc các tỉnh lân cận để mua gom sản vật về cung cấp lại cho các nhà buôn lớn (Hoa kiều) hay bán lại cho các nhà bán lẻ. “Đó có thể là hình ảnh anh chàng người Đà Nẵng kia đi buôn bằng ghe, như câu ca dao đã ghi lại”, tác giả viết.

Về công nghệ, thật khó mà tìm ra dấu vết của nghề nung vôi hàu tại vùng đất Nại Hiên, nhưng chắc chắn nghề này “đã đem lại công ăn việc làm cho một số dân chúng”, tác giả Võ Văn Dật lý giải. Theo thời gian, hình ảnh xưa lẫn địa danh cũ cũng đổi thay. “Nại Hiên Tây” xuất hiện không nhiều đã đành, hình ảnh “lò vôi” sớm mất dấu trong đời sống đô thị.

“Phát kiến” về hình dáng một ngọn núi

Chính nhà nghiên cứu Võ Văn Dật còn “đưa ra một phát kiến” (chữ của ông) khi liên hệ tới danh xưng Đà Nẵng, có liên quan đến địa danh Hiện Cảng và lò vôi. “Tại sao lại gọi là Hiện Cảng? Phải chăng vì vịnh Đà Nẵng ngày xưa có quá nhiều các loại sò hến sinh sống? Điều này rất có thể, vì tại Đà Nẵng còn truyền khẩu câu ca dao đề cập nghề làm vôi hàu (vôi nung từ vỏ hàu vỏ hến mà ra) ngày xưa tại vùng Nại Hiên bây giờ: Gió Nam thổi xuống Lò Vôi/ Ai nói với bạn ta có đôi cho bạn buồn…” (Lịch sử Đà Nẵng 1306 - 1975, NXB Hồng Đức 2019, trang 29). Ông dẫn chữ Hiện (蜆, con hến), chữ Cảng (港, cửa biển), dẫn cả lối phát âm của người Trung Quốc (Hành Cảng, Hằng Cảng, Hian Cảng, Hien Cảng, Hín Cóng, Hín Cóng)… để đặt nghi vấn về sò hến ở Đà Nẵng.

Nhưng ngay sau đó, nhà nghiên cứu Võ Văn Dật lại cung cấp thông tin từ những Hoa kiều lớn tuổi mà ông có dịp phỏng vấn để giải thích hình ảnh con hến trên địa danh “Hiện Cảng” liên quan đến hòn đảo, chứ không chỉ là nơi có nhiều sò hến. Ấy là, ngày xưa, người Hoa đi buôn bằng đường biển về phương Nam muốn đến xứ Quảng Nam cứ men theo bờ biển, khi trông thấy chỗ nào có hòn đảo giống hình con hến thì ghé thuyền vào.

Vậy hòn đảo nào gần Đà Nẵng có hình giống con hến? Qua đối sánh thực tế và khảo sát các bản đồ, từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Nam chỉ có hòn Sơn Chà (Sơn Trà) và Cù Lao Chàm đáng để ý hơn cả. Cuối cùng, chỉ có Sơn Trà đáp ứng đầy đủ yếu tố định hướng cần thiết: trông từ hướng Bắc trên mặt biển hòn đảo trông giống hình con hến hay con sò nhìn nghiêng, nằm trên hải trình Bắc - Nam đối với các loại thuyền buồm cận duyên… Vì thế, dù chữ Hiện 蜆 đa số viết với bộ trùng (虫) (con hến được xếp vào loại côn trùng), nhưng một số người Hoa viết chữ Hiện 峴 với bộ sơn (山), để chỉ tên núi.

Từ tả ngạn (bờ Tây) sông Hàn, qua cầu Thuận Phước về phía đông đến cầu Mân Quang, nhìn về hướng biển giờ chỉ thấy khu dân cư đông đúc. Ngày xưa, nơi đây từng có cồn cát, lò nung vôi theo lời kể của cư dân Nại Hiên cũ. Ở nơi đầu núi cuối sông này hiện không còn nhiều dấu vết cũ trên thực địa, kể cả “dấu vết” trong ca dao. Nhưng không sao, ca dao Đà Nẵng hay hát nhân ngãi, hát ru... đã kịp “lưu” dấu vết của một vùng đất, giúp hậu thế hình dung “diện mạo” và nếp sinh hoạt cũ bên kia sông Hàn.

THUẬN TRIỀU

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/lan-theo-mot-di-ban-lo-voi-3326114.html