Luật Đô thị đặc biệt: Điểm đột phá là thay đổi triết lý quản trị nhà nước đối với TP.HCM

Luật Đô thị đặc biệt cần trao cho thành phố quyền tự chủ mạnh mẽ hơn về tổ chức bộ máy, nhân sự và cơ chế thu hút nhân tài.

TP.HCM đang đứng trước yêu cầu xây dựng một mô hình quản trị mới tương xứng với vai trò đầu tàu kinh tế, trung tâm tài chính và đổi mới sáng tạo của cả nước.

Trong bối cảnh đó, Luật Đô thị đặc biệt được kỳ vọng khi được thông qua sẽ tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để thành phố chủ động hơn trong tổ chức bộ máy, sử dụng nhân lực và phát huy các động lực phát triển.

Xung quanh những cơ chế đột phá cần thiết cho TP.HCM, báo Pháp Luật TP.HCM đã có những trao đổi với TS Nguyễn Thái Cường, Viện Luật So sánh, Trường Đại học Luật TP.HCM.

 Trung tâm TP.HCM nhìn từ trên cao. Ảnh: THUẬN VĂN

Trung tâm TP.HCM nhìn từ trên cao. Ảnh: THUẬN VĂN

Không nên quản siêu đô thị bằng tư duy biên chế

. Phóng viên: Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đã định hướng việc trao cho TP.HCM những thẩm quyền về tổng biên chế, tổ chức bộ máy. Theo ông, điều này liệu đã đủ với một siêu đô thị như TP.HCM?

+ TS Nguyễn Thái Cường: Tôi cho rằng điểm đột phá quan trọng nhất của Luật Đô thị đặc biệt là việc thay đổi triết lý quản trị nhà nước đối với TP.HCM.

Nếu như trước đây chúng ta quản lý địa phương theo mô hình tương đối đồng nhất, thì với siêu đô thị TP.HCM, tư duy đó không còn phù hợp. Thành phố hiện đã trở thành một cực tăng trưởng quốc gia, trung tâm tài chính, công nghệ, logistics và đổi mới sáng tạo có vai trò cạnh tranh trực tiếp với các đô thị lớn trong khu vực châu Á.

Theo các định hướng đang được thảo luận, dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đề xuất phân quyền gần 300 thẩm quyền cho chính quyền thành phố. Tuy nhiên, nếu chỉ trao quyền về đầu tư, tài chính hay quy hoạch mà không trao quyền tương ứng về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực thì rất khó để thực hiện những quyền được trao đó.

Theo tôi, Luật Đô thị đặc biệt cần trao cho TP.HCM quyền tự chủ ở ba cấp độ. Thứ nhất, tự chủ về quy mô nhân sự. Trung ương nên chuyển từ cơ chế giao biên chế cứng sang cơ chế giao nhiệm vụ và kiểm soát kết quả.

Thành phố cần được trao quyền xác định số lượng vị trí việc làm phù hợp với khối lượng công việc thực tế, đặc biệt trong bối cảnh đang thực hiện các nhiệm vụ mới như xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, phát triển kinh tế số, quản trị đô thị thông minh hay triển khai các mô hình sandbox (cơ chế thử nghiệm có kiểm soát) chính sách.

Thứ hai, tự chủ về thiết kế bộ máy quản trị. Một đô thị hướng tới vị thế toàn cầu cần có khả năng hình thành những thiết chế mới mà mô hình hành chính truyền thống chưa từng dự liệu.

Chẳng hạn như cơ quan quản trị dữ liệu đô thị, trung tâm điều phối trí tuệ nhân tạo, cơ quan điều hành trung tâm tài chính quốc tế hay các đơn vị chuyên trách về đổi mới sáng tạo và công nghệ chiến lược. Trong nhiều trường hợp, việc chờ sửa đổi hệ thống tổ chức thống nhất trên phạm vi toàn quốc sẽ khiến thành phố bỏ lỡ cơ hội phát triển.

Thứ ba, tự chủ về chế độ sử dụng nhân lực. TP.HCM cần được phép tuyển dụng chuyên gia theo hợp đồng, theo dự án hoặc theo nhiệm vụ chiến lược mà không bắt buộc phải đưa họ vào khuôn khổ công vụ truyền thống.

Một nhà khoa học dữ liệu, một chuyên gia AI hay một chuyên gia tài chính quốc tế có thể đóng góp rất lớn cho thành phố nhưng không nhất thiết phải trở thành công chức theo nghĩa thông thường.

Nói cách khác, nếu Luật Đô thị đặc biệt hướng tới xây dựng một chính quyền đô thị có khả năng cạnh tranh toàn cầu thì thành phố phải được quyền lựa chọn mô hình nhân sự phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Điều quan trọng nhất không phải là TP.HCM có bao nhiêu biên chế mà là thành phố có đủ quyền để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu phát triển hay không.

 TS Nguyễn Thái Cường. Ảnh: TRẦN LINH

TS Nguyễn Thái Cường. Ảnh: TRẦN LINH

. Hiện nay, đâu là những rào cản khiến TP.HCM chưa thu hút được nhiều chuyên gia, nhà khoa học hay nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực then chốt? Thành phố cần cơ chế đặc thù như thế nào để không “thua ngay trên sân nhà” trong cuộc đua nhân lực chất lượng cao?

+ Chúng ta thường nói về hạ tầng giao thông, hạ tầng số hay hạ tầng tài chính nhưng thực tế, hạ tầng quan trọng nhất của một nền kinh tế tri thức chính là nhân lực.

Một trung tâm tài chính quốc tế không thể hình thành nếu thiếu chuyên gia tài chính quốc tế. Một đô thị AI không thể phát triển nếu thiếu các nhà khoa học dữ liệu. Một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo không thể vận hành nếu thiếu các chuyên gia công nghệ hàng đầu.

Tuy nhiên, theo tôi hiện nay, TP.HCM đang gặp phải ba rào cản lớn.

Thứ nhất là cạnh tranh thị trường lao động toàn cầu. Ngày nay, chuyên gia giỏi không còn cạnh tranh trong phạm vi một quốc gia. Một chuyên gia AI tại TP.HCM có thể làm việc cho Singapore, Dubai hoặc thung lũng Silicon mà không cần rời khỏi Việt Nam. Điều đó có nghĩa là thành phố đang cạnh tranh nhân lực với cả thế giới.

Trong bối cảnh đó, nếu khu vực công vẫn áp dụng cơ chế tiền lương hành chính truyền thống thì gần như không có cơ hội thu hút nhân tài ở các lĩnh vực chiến lược.

Thứ hai là cơ chế tuyển dụng chưa thực sự dựa trên năng lực thị trường. Những chuyên gia hàng đầu thường quan tâm đến giá trị công việc, khả năng tạo ảnh hưởng và môi trường sáng tạo hơn là các tiêu chí hình thức. Họ không muốn mất nhiều tháng để trải qua các quy trình tuyển dụng mang nặng tính thủ tục hành chính.

Thứ ba là văn hóa quản trị còn thiên về quản lý hơn là trao quyền. Nhiều chuyên gia rời khu vực công vì thu nhập mà vì họ không có không gian để sáng tạo, không có thẩm quyền để quyết định và không được bảo vệ khi thực hiện các sáng kiến đổi mới.

Theo tôi, Luật Đô thị đặc biệt cần cho phép TP.HCM xây dựng một cơ chế nhân tài hoàn toàn mới. Trước hết, thành phố cần được quyền áp dụng cơ chế thu nhập theo vị trí việc làm và giá trị thị trường, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, tài chính quốc tế, công nghệ số, dữ liệu lớn và quy hoạch đô thị.

Tiếp theo, cần thiết lập cơ chế tuyển dụng mở trên phạm vi toàn cầu, cho phép thành phố chủ động lựa chọn chuyên gia trong và ngoài nước, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài, thông qua các hợp đồng chuyên gia hoặc hợp đồng nhiệm vụ.

Tôi cũng đề xuất nghiên cứu thành lập Quỹ Phát triển Nhân tài Đô thị Đặc biệt, tương tự nhiều đô thị lớn trên thế giới. Quỹ này có thể tài trợ nghiên cứu chính sách, thu hút chuyên gia chiến lược, hỗ trợ các dự án đổi mới sáng tạo trong khu vực công và tạo nguồn lực tài chính độc lập cho chiến lược phát triển nhân tài.

Quan trọng hơn cả, chúng ta phải chuyển từ tư duy “quản lý công chức” sang tư duy “quản trị nhân tài”.

Nếu không có một cuộc cải cách thực chất về cơ chế sử dụng con người, TP.HCM sẽ rất khó cạnh tranh trong cuộc đua nhân lực toàn cầu, ngay cả khi được trao những cơ chế tài chính hay đầu tư vượt trội.

 Tuyến Metro số 1 tại TP.HCM. Ảnh: THUẬN VĂN

Tuyến Metro số 1 tại TP.HCM. Ảnh: THUẬN VĂN

Trao quyền phải đi cùng trách nhiệm giải trình

. Nếu trao quyền nhiều hơn cho TP.HCM về tổ chức bộ máy, biên chế và cơ chế dùng người, cần thiết kế cơ chế kiểm soát, giám sát như thế nào để vừa tạo được sự chủ động cho thành phố, vừa tránh tình trạng phình bộ máy nhưng không nâng cao hiệu quả quản trị?

+ Bất kỳ mô hình phân quyền nào cũng phải giải quyết đồng thời hai yêu cầu tưởng như đối lập là mở rộng quyền tự chủ và bảo đảm kiểm soát quyền lực.

Theo tôi, chìa khóa nằm ở việc thay đổi phương thức giám sát. Trong nhiều năm qua, chúng ta chủ yếu kiểm soát đầu vào như bao nhiêu biên chế, bao nhiêu phòng ban, bao nhiêu đầu mối tổ chức, bao nhiêu quy trình thủ tục. Tuy nhiên, cách tiếp cận này phù hợp với quản lý hành chính truyền thống hơn là quản trị đô thị hiện đại.

Đối với một đô thị đặc biệt, cần chuyển sang mô hình kiểm soát dựa trên kết quả đầu ra và giá trị công tạo ra cho xã hội. Nói cách khác, câu hỏi không phải là thành phố sử dụng bao nhiêu người, mà là những người đó tạo ra kết quả gì.

Luật Đô thị đặc biệt nên thiết lập một hệ thống KPI quản trị đô thị hiện đại dựa trên các nhóm tiêu chí như mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, thời gian xử lý thủ tục hành chính, chỉ số chuyển đổi số, chỉ số năng lực cạnh tranh, chỉ số đổi mới sáng tạo, hiệu quả sử dụng ngân sách, chất lượng môi trường đầu tư, chất lượng sống đô thị, khả năng thu hút vốn và nhân tài quốc tế.

Nếu bộ máy tăng nhưng các chỉ số này không được cải thiện thì thành phố phải có trách nhiệm tái cơ cấu. TP cũng cần xây dựng cơ chế giám sát nhiều tầng. HĐND TP.HCM phải trở thành trung tâm giám sát quyền lực thực chất, đặc biệt đối với các quyết định liên quan đến nhân sự, ngân sách và tổ chức bộ máy.

Kiểm toán Nhà nước và các thiết chế kiểm tra độc lập cần đánh giá định kỳ hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Đồng thời, cần đẩy mạnh quản trị dữ liệu mở, công khai các chỉ số hoạt động của bộ máy để người dân, doanh nghiệp và giới chuyên gia có thể tham gia giám sát xã hội.

Tôi cho rằng nguyên tắc quan trọng nhất của Luật Đô thị đặc biệt cần được xác lập là "quyền tự chủ càng lớn thì trách nhiệm giải trình càng cao".

Một chính quyền đô thị hiện đại không được đánh giá bởi số lượng biên chế hay mức độ tuân thủ thủ tục, mà bởi khả năng tạo ra giá trị công, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng sống của người dân. Đó cũng là xu hướng quản trị đang được áp dụng tại các đô thị hàng đầu thế giới và là tinh thần mà Luật Đô thị đặc biệt cần hướng tới nếu muốn tạo ra một bước đột phá thực sự cho TP.HCM trong giai đoạn phát triển mới.

NHẬT DIỄM

HUỲNH THƠ

Nguồn PLO: https://plo.vn/luat-do-thi-dac-biet-diem-dot-pha-la-thay-doi-triet-ly-quan-tri-nha-nuoc-doi-voi-tphcm-post911480.html