Mở hành lang pháp lý cho công nghiệp văn hóa bứt tốc

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực để đưa văn hóa trở thành động lực tăng trưởng và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.

Kiến tạo hệ sinh thái để công nghiệp văn hóa bứt phá

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thiện dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa và tổ chức lấy ý kiến từ ngày 5 đến 24/8/2026. Theo kế hoạch, dự án Luật sẽ được trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI vào tháng 10/2026.

Các sự kiện văn hóa, nghệ thuật quy mô lớn góp phần quảng bá bản sắc Việt Nam, mở rộng không gian sáng tạo và thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa. Ảnh: Sở Du lịch Hà Nội.

Các sự kiện văn hóa, nghệ thuật quy mô lớn góp phần quảng bá bản sắc Việt Nam, mở rộng không gian sáng tạo và thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa. Ảnh: Sở Du lịch Hà Nội.

Dự thảo gồm 9 chương, 60 điều, quy định về phát triển công nghiệp văn hóa cùng quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có liên quan. Đáng chú ý, lần đầu tiên công nghiệp văn hóa được tiếp cận như một hệ thống các hoạt động kinh tế khai thác tài nguyên văn hóa, kết hợp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tài sản trí tuệ nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế và xã hội, góp phần phát triển con người, bảo tồn bản sắc dân tộc, nâng cao năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia.

Cùng với việc đưa ra 10 lĩnh vực trọng tâm của công nghiệp văn hóa, dự thảo xác lập đầy đủ chuỗi giá trị từ sáng tạo, phát triển, sản xuất, phân phối, thương mại hóa đến tiêu dùng và tái đầu tư trong một khuôn khổ pháp lý thống nhất.

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam được Bộ Chính trị ban hành (ngày 7/1/2026), công tác xây dựng thể chế đã có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là những “khoảng trống” đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra.

Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng cho hay, sau hơn 12 năm triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, tỷ trọng đóng góp của lĩnh vực này vào GDP giai đoạn 2018 - 2025 mới đạt khoảng 4 - 5%, còn cách khá xa mục tiêu tối thiểu 7% theo Nghị quyết số 80-NQ/TW.

Nguyên nhân chủ yếu, theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, là hệ thống pháp luật hiện hành mới tập trung quản lý theo từng lĩnh vực chuyên ngành, thiếu một đạo luật mang tính kiến tạo để kết nối toàn bộ chuỗi giá trị. Thứ trưởng nhấn mạnh, tinh thần xuyên suốt của dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là “chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền tạo ra giá trị kinh tế”.

Tháo gỡ điểm nghẽn về tài sản trí tuệ, hạ tầng và nguồn lực

Một trong những nội dung được xem là đột phá của dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là xác định tài sản trí tuệ là động lực tăng trưởng quan trọng nhất của công nghiệp văn hóa. Đây cũng là lĩnh vực được thiết kế nhiều cơ chế mới nhằm tháo gỡ những rào cản lâu nay như thiếu công cụ quản lý trên môi trường số, thiếu hồ sơ chuẩn hóa để thương mại hóa, khó tiếp cận tín dụng bằng tài sản trí tuệ và hạn chế trong hoạt động định giá.

Các lễ hội và sự kiện văn hóa hiện đại đang trở thành sản phẩm có sức hút, góp phần phát triển thị trường công nghiệp văn hóa và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Ảnh: Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội.

Các lễ hội và sự kiện văn hóa hiện đại đang trở thành sản phẩm có sức hút, góp phần phát triển thị trường công nghiệp văn hóa và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Ảnh: Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội.

Theo đó, dự thảo đề xuất số hóa toàn bộ vòng đời tài sản trí tuệ, áp dụng mã định danh tương thích quốc tế để nhận diện, truy xuất và kết nối dữ liệu. Hồ sơ tài sản trí tuệ sẽ được chuẩn hóa dưới dạng số, phục vụ định giá, giao dịch, bảo hộ và tiếp cận vốn tín dụng, nhưng không làm phát sinh hay thay đổi quyền sở hữu trí tuệ.

Một điểm đáng chú ý khác là dự thảo cho phép sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn và làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng. Ngân hàng Nhà nước sẽ chủ trì xây dựng cơ chế quản lý rủi ro, bảo lãnh tín dụng và hướng dẫn các tổ chức tín dụng cấp vốn dựa trên giá trị tài sản trí tuệ hoặc quyền tài sản phát sinh từ tài sản trí tuệ. Trong trường hợp doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản, tài sản trí tuệ được ưu tiên tiếp tục khai thác thông qua chuyển nhượng hoặc cấp quyền nhằm duy trì chuỗi giá trị kinh tế.

Song song với đó, dự thảo đề xuất Nhà nước cung cấp miễn phí các công cụ số hỗ trợ xác thực chủ thể sáng tạo, lưu nhật ký sáng tạo, lập hồ sơ tài sản trí tuệ, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia và các sàn giao dịch tài sản trí tuệ, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp phát triển các công cụ nâng cao theo cơ chế thị trường.

Ở góc độ hạ tầng, dự thảo lần đầu tiên xác lập đầy đủ hệ thống hạ tầng công nghiệp văn hóa, gồm công trình hạ tầng công nghiệp văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, không gian công cộng dành cho hoạt động văn hóa và hạ tầng văn hóa số. Trong đó, hạ tầng dữ liệu được xác định là cấu phần cốt lõi với Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, cơ sở dữ liệu văn hóa cùng các nền tảng số phục vụ tạo lập, quản trị, kết nối và khai thác dữ liệu.

Dự thảo cũng đẩy mạnh phân cấp khi giao UBND cấp xã chủ động thu thập, cập nhật và số hóa dữ liệu văn hóa tại địa phương. Đồng thời, cơ chế quản lý hoạt động nghệ thuật trong các tổ hợp sáng tạo văn hóa được cải cách theo hướng chuyển từ tiền kiểm từng sự kiện sang tiền kiểm theo chu kỳ hoặc quản lý thông qua quy chế vận hành nội bộ, góp phần giảm thủ tục hành chính và tạo điều kiện cho các hoạt động sáng tạo phát triển.

Để giải phóng nguồn lực đầu tư, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa bổ sung nhiều cơ chế mới như đa dạng hóa phương thức đầu tư từ ngân sách nhà nước, đối tác công tư đến vốn doanh nghiệp; lồng ghép nghĩa vụ dành một phần kinh phí trong các dự án hạ tầng dân dụng quy mô lớn để đầu tư cho công nghiệp văn hóa; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả khai thác hạ tầng làm căn cứ tiếp tục ưu đãi hoặc tái cơ cấu đối với các dự án hoạt động kém hiệu quả.

Một điểm nhấn khác là lần đầu tiên dự thảo chính thức đề xuất cơ chế đồng đầu tư giữa Nhà nước và khu vực tư nhân đối với tài sản trí tuệ gốc, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm và các sản phẩm mang đậm bản sắc Việt Nam. Cơ chế này có thể thực hiện thông qua góp vốn đối ứng, quỹ đầu tư mạo hiểm, mua cổ phần hoặc hợp đồng chia sẻ doanh thu, chia sẻ rủi ro, qua đó tạo thêm động lực để phát triển các sản phẩm văn hóa có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Bên cạnh các chính sách về tài chính, dự thảo còn mở rộng hệ thống ưu đãi dành cho doanh nghiệp, hợp tác xã, doanh nghiệp khởi nghiệp, hộ kinh doanh và nhóm sáng tạo thông qua chính sách về thuế, tín dụng, đào tạo, chuyển đổi số, không gian sáng tạo và xúc tiến thị trường. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, dự thảo đặt ra cơ chế ưu tiên thu hút các dự án gắn với cam kết phát triển tài sản trí tuệ Việt Nam, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Với cách tiếp cận kiến tạo thay vì chỉ quản lý, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng pháp lý đồng bộ để kết nối toàn bộ hệ sinh thái sáng tạo, khơi thông nguồn lực đầu tư, thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp văn hóa. Qua đó, văn hóa sẽ từng bước trở thành một động lực tăng trưởng mới, đóng góp nhiều hơn vào GDP, đồng thời lan tỏa thương hiệu và sức mạnh mềm Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế./.

Hạnh Phúc

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/mo-hanh-lang-phap-ly-cho-cong-nghiep-van-hoa-but-toc-202005.html