Mở lối sinh kế xanh cho cộng đồng giữ rừng

Xu hướng phát triển thị trường tín chỉ các-bon toàn cầu đang mở ra một hướng đi hoàn toàn mới cho ngành lâm nghiệp.

Từ chỗ bảo vệ rừng chủ yếu dựa vào trách nhiệm và hỗ trợ ngân sách, nhiều cộng đồng địa phương giờ đây có cơ hội tạo nguồn thu nhập trực tiếp từ việc giữ rừng, biến công tác bảo tồn thiên nhiên thành một sinh kế xanh bền vững.

Vườn sâm Ngọc Linh của đồng bào dân tộc Xơ Đăng trồng dưới tán rừng nguyên sinh ở xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng. Ảnh: Đỗ Trưởng – TTXVN

Vườn sâm Ngọc Linh của đồng bào dân tộc Xơ Đăng trồng dưới tán rừng nguyên sinh ở xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng. Ảnh: Đỗ Trưởng – TTXVN

Khi rừng tạo ra giá trị kinh tế từ hấp thụ các-bon

Trong nhiều năm, phần lớn cộng đồng sống gần rừng tại Việt Nam vẫn đối mặt với bài toán sinh kế khó khăn. Thu nhập từ nghề rừng còn thấp, trong khi áp lực khai thác tài nguyên, chuyển đổi đất hoặc sản xuất ngắn hạn ngày càng lớn. Điều này khiến công tác bảo vệ rừng ở không ít địa phương gặp nhiều thách thức, đặc biệt tại các khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, xu hướng phát triển thị trường tín chỉ các-bon toàn cầu đang mở ra một hướng đi hoàn toàn mới cho ngành lâm nghiệp. Thay vì chỉ được nhìn nhận là tài nguyên môi trường, rừng giờ đây còn được xem là “tài sản các-bon” có khả năng tạo ra giá trị kinh tế thực tế.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, các quốc gia và doanh nghiệp phát thải lớn đang phải tìm cách cắt giảm lượng khí nhà kính để đáp ứng các cam kết quốc tế. Một trong những giải pháp quan trọng là chi trả cho hoạt động bảo vệ và phục hồi rừng tại các nước đang phát triển, nơi sở hữu nhiều “bể chứa các-bon” tự nhiên. Đó cũng chính là cơ chế cốt lõi của REDD+, chương trình giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng do Liên hợp quốc thúc đẩy trong nhiều năm qua.

Theo cơ chế này, các quốc gia hoặc tổ chức quốc tế sẽ chi trả tài chính cho những hoạt động giúp giảm phát thải khí nhà kính thông qua bảo vệ rừng, phục hồi hệ sinh thái và quản lý rừng bền vững. Điểm quan trọng của REDD+ là biến việc giữ rừng thành hoạt động có giá trị kinh tế rõ ràng. Khi lượng các-bon hấp thụ hoặc lượng phát thải tránh được từ rừng được đo đạc và xác nhận, chúng có thể quy đổi thành tín chỉ các-bon để giao dịch trên thị trường.

Đối với Việt Nam, đây được xem là cơ hội rất lớn. Với hơn 14,7 triệu ha rừng và độ che phủ khoảng 42%, Việt Nam được đánh giá có tiềm năng hấp thụ hàng triệu tấn các-bon mỗi năm. Theo nhiều chuyên gia, nếu tận dụng hiệu quả thị trường tín chỉ các-bon, ngành lâm nghiệp có thể tạo thêm nguồn lực tài chính lớn phục vụ bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

Nhiều địa phương tại Thanh Hóa đẩy mạnh trồng cây dược liệu dưới tán rừng, mở ra hướng nâng cao giá trị kinh tế từ đất rừng. Ảnh: Thanh Hương/Bnews/vnanet.vn

Nhiều địa phương tại Thanh Hóa đẩy mạnh trồng cây dược liệu dưới tán rừng, mở ra hướng nâng cao giá trị kinh tế từ đất rừng. Ảnh: Thanh Hương/Bnews/vnanet.vn

Theo PGS.TS Hoàng Văn Phụ, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Kinh tế và Phát triển thì "Thị trường tín chỉ các-bon chính là công cụ kinh tế quyết định khả năng thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó biến đổi khí hậu trong mô hình tăng trưởng xanh". Ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông Nghiệp và Môi Trường) nhận định "Lâm nghiệp là lĩnh vực đang phát thải âm, có tiềm năng rất lớn để tham gia thị trường tín chỉ các-bon".

Thực tế, Việt Nam đã ghi nhận những kết quả bước đầu đáng chú ý. Thông qua Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam từng chuyển nhượng thành công 10,3 triệu tín chỉ các-bon rừng khu vực Bắc Trung Bộ với tổng giá trị khoảng 51,5 triệu USD. Các chuyên gia đánh giá đây là dấu mốc quan trọng, cho thấy tài nguyên rừng của Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra nguồn thu thực tế từ thị trường các-bon quốc tế.

Biến bảo vệ rừng thành nghề nghiệp bền vững

Một trong những ý nghĩa lớn nhất của chương trình REDD+ là tạo động lực kinh tế trực tiếp cho cộng đồng địa phương, những người đang sống gần rừng và trực tiếp tham gia bảo vệ tài nguyên rừng mỗi ngày.

Trước đây, việc giữ rừng chủ yếu mang tính trách nhiệm cộng đồng hoặc phụ thuộc vào các khoản hỗ trợ còn hạn chế từ ngân sách nhà nước. Điều này khiến nhiều hộ dân khó gắn bó lâu dài với công tác bảo vệ rừng khi thu nhập không ổn định.

Tuy nhiên, khi tín chỉ các-bon bắt đầu tạo ra nguồn thu thực tế, rừng dần được nhìn nhận như tài sản sinh kế lâu dài. Thay vì khai thác gỗ hoặc chuyển đổi đất rừng để tìm kiếm lợi ích ngắn hạn, người dân sẽ có thêm lý do kinh tế để duy trì và phục hồi hệ sinh thái rừng.

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 tại COP26, vai trò của ngành lâm nghiệp ngày càng trở nên quan trọng. Các “bể chứa các-bon” tự nhiên như rừng được xem là công cụ chiến lược giúp hấp thụ khí nhà kính và cân bằng lượng phát thải từ các lĩnh vực công nghiệp, giao thông hay năng lượng.

Khi những người giữ rừng có thể sống được từ rừng bằng nguồn thu nhập ổn định và minh bạch, việc bảo vệ cây xanh sẽ không còn chỉ là nhiệm vụ môi trường mà dần trở thành một nghề nghiệp thực sự. Và trong hành trình ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu, đó có thể là một trong những hướng đi bền vững nhất để vừa giữ rừng, vừa giữ sinh kế cho cộng đồng địa phương trong tương lai.

Diệp Anh/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/mo-loi-sinh-ke-xanh-cho-cong-dong-giu-rung/425437.html