Mùa Xuân mang tên tự do
Hơn một ngàn ngày chúng không cho tôi thấy ánh mặt trời, kể từ đêm 17 tháng 12 năm 1965. Chúng ập vào nhà, còng hai tay, bịt hai mắt, tống lên chiếc xe bịt bùng, chở đi trong đêm đen, tống tôi vào một cái lò. Tròn 60 năm, tôi quyết định đi thăm cái lò ấy. Hai cánh cửa sắt cổng cái lò - lao Thừa Phủ - Huế, nối hai góc tường rêu phong, rễ bồ đề bu bám. Một Chứng tích lịch sử. Chừng đó, bao nhiêu ký ức ngủ yên trong tôi bừng thức dậy.

Lao Thừa Phủ trước 1975.
Bút ký Hồ Duy Lệ
Tối mồng Một, Phan Hoàng bò đến bên tôi, thầm thì: Mi nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ chưa?
- Nghe ở đâu? Tôi nắm tay Hoàng, hỏi.
Hoàng kéo tôi bò lại chỗ góc phòng I, đọc cho tôi nghe: Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng trận tin vui khắp nước nhà/Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta. Anh em đi hành dịch liên lạc biết tin gia đình, trong những gói quà có bài thơ Xuân của Bác Hồ. Những lời thơ của Bác, anh chị em hiểu là mệnh lệnh tiến công. Chỉ có tiến công mới Toàn thắng ắt về ta!
Gần Tết, tôi nhận được gói quà gửi từ Hội An. Là gói dăm bông cá thu. Mạ tôi róc lấy thịt cá, chấy thành dăm bông... Giờ này chắc mạ tôi chưa thể nào ngủ được. Chạy tránh bom đạn từ trong quê ra vùng ven phố Hội, mạ có lo được Tết cho mấy em tôi không? Tôi đang chập chờn thức, ngủ, bỗng những tiếng nổ ầm ầm, lửa tóe sáng từ mấy góc bờ tường thành nhà lao...

Tác giả thăm lại người bạn tù N.H
- Pháo kích! Phan Hoàng thốt lên.
Nguyễn Tùy nói ngược lại: Pháo đón giao thừa.
Lại mấy tiếng nổ ầm ầm, lửa tóe trên vọng gác. Chúng tôi chồm dậy, bò lại gần nhau, muốn truyền cho nhau hơi ấm, niềm vui. Lời sấm của Bác đang linh nghiệm! Tiếng súng dồn dập, áp sát nhà lao, càng tạo thêm sự phấn chấn trong lòng những người tù chính trị. Một ngày nữa trôi qua. Đêm thứ ba, tiếng súng lại rộ lên vào khoảng 11 giờ khuya. Một dấu hiệu quân Giải phóng đang kiên gan trụ lại.
Mỗi một chiến sĩ cách mạng bị tống vào lao tù đều có một hành trang, đương nhiên là chữ Nhẫn, đó là cái chén, đôi đũa ăn cơm, cái ca đựng nước uống, cái xách đựng áo quần, là sách, là vở, là viết, là bộ cờ tướng, bộ bài tây, cuộn chỉ thêu xanh, đỏ, vàng và khung thêu… Anh chị em người Hương Thủy, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc, thường có được trã cá bống thệ kho tiêu, trã cá đồng kho lá nghệ thường bỏ nhiều ớt tươi cay thơm. Bữa ăn nào được bạn gắp cho một con cá bống thệ hoặc xúc cho một muỗng ruốc sả, là bữa cơm nhắc đến là chảy nước miếng.
Nhìn cái dây xích sắt khóa chặt hai cánh cửa sắt, tôi nhớ mạ tôi vô cùng. Và nhớ em gái tôi - Phước Hạnh, lần đầu em được phép bước vào bên trong hai cánh cửa sắt, ngồi trên chiếc ghế gỗ dài ở phòng chờ, đợi tôi được gọi tên ra thăm. Tôi nhớ đến người bạn của em gái tôi - T. L. Qua tò mò biết Hạnh có người anh bị giam trong lao Thừa Phủ, T. L ngỏ lời muốn thăm tôi. Tôi hỏi Hạnh: Cô ấy đẹp không? Hạnh cười: Dễ thương.
Lần đầu, được bước qua cái cửa sắt vào phòng chờ. T.L đứng nhìn tôi, không nói nên lời. Tôi chào T.L bằng một câu hỏi: Không sợ sao dám đến đây? T. L e lệ nhìn tôi, nhỏ nhẹ: Khi đến trước cổng, thấy hai cánh cửa sắt, T. L hồi hộp quá. Chừ, hết run rồi... Tôi nhìn em - cô gái Huế thân hình thon nhỏ, đôi mắt sáng trong, diện bộ đầm màu hoa tím biếc, thân áo che gần kín đôi chân, tay ôm cây dù. T. L có vẻ đẹp của các cô giáo dạy Trường Đồng Khánh... Tôi không biết nói gì thì em lấy khăn, lau giọt nước mắt lăn trên má…
Hai người bị ngăn cách bởi cái bàn chữ U rộng một mét, dài hai mét - cái bàn là nơi người thăm để quà - bất cứ quà gì, phải đặt lên cái bàn này, để giám sát. Cái bàn là khoảng cách ngăn hai người tiếp xúc gần. Im lặng nhìn nhau là tín hiệu thay lời - một sự im lặng lấp đầy tâm hồn hai người vốn xa lạ. Nghe anh bảo vệ nhắc sắp hết giờ, T.L lấy gói quà từ trong xách ra đặt lên bàn, nhìn tôi, thẹn thùng. Tôi nói: Thăm là quý rồi, quà chi em. T. L nhỏ nhẹ: Quà chi mô. Chỉ… Tiếng hết giờ của anh bảo vệ làm em giật mình. Tôi muốn trườn qua cái mặt bàn nắm tay em thay lời cảm ơn. Em đưa tay chào, đi ra gần cửa sắt, nghiêng đầu nhìn lại, là lúc tôi chậm bước qua ngạch cửa, quay nhìn thấy em quay mặt nhìn tôi thì hai cánh cửa sắt khép lại…
...Về phòng giam, mở hộp quà: Một bình mắm ruốc - rất thật lòng và thực tế. Ai bày cho em? Và, trong chiếc hộp nhỏ bằng cạc-tông, một cành hoa Lưu Ly màu xanh lam - Forget me not - một mộng mơ mênh mông!
Và chuyến thăm sau, Hạnh tường thuật lại ấn tượng đầy xúc động của T. L về một tù nhân với đầu tóc đen dày, bồng bềnh, mặc cái áo vải ka-ki màu vàng cỏ úa... T.L có vẻ e dè rồi khẽ hỏi: Sao anh bị giam? Hạnh ngần ngừ, rồi cho T.L biết, anh ở trong Mặt trận Sinh viên - Học sinh chống Mỹ. T.L im lặng và dường như được giải thoát ý nghĩ khi nhìn tôi trong đám tù nhân đủ sắc áo quần, thể hiện nhiều loại thành phần, kể cả cướp giật, bụi đời...
Lần thứ hai, T. L đến, đứng ngoài cổng xin thăm, anh gác cổng nhà lao thật lòng, rằng, lệnh không cho thăm, cũng không cho gửi quà. H. D. L. là phần tử sắp bị đày Côn Đảo. Cái tin như sét đánh, T. L òa khóc, đứng không vững bên chân tường thành, cạnh hai cánh cửa sắt một lúc rồi cúi chào người lính gác, vừa đi, vừa ấm ức, nước mắt nhòa mi - chuyện này, em gái tôi kể lại.
Nếu quân giải phóng tràn đến, nếu hai cánh cửa sắt mở toang, thì... sẽ mang theo gì trong mớ hành trang đặt sát tường trên chỗ gối đầu của mỗi người tù? Tôi nghiêng người qua phía Nguyễn Hữu Ngô - sinh viên Văn khoa, thầm thì: Chuẩn bị chứ?
- Rồi. Sẵn sàng.
- Ngô mang gì theo?
- Chỉ cái mạng gầy ni, rảnh tay, rảnh chân mà thoát chớ! Thoát ra được là có tất.
Tôi chưa kịp nói gì thì Ngô hỏi: Còn mi? Bình dăm bông bà già cho hay cành hoa Lưu Ly của em? Mi thì nhiều thứ phải mang theo quá.
Tôi quyết định mang theo chiếc võng ka-ki - chiếc võng Hạnh gửi cho tôi khi tôi đang khốn khổ vì lũ rệp đói, hàng đêm tấn công không chút sợ hãi anh em tù vốn thiếu đủ thứ, nhất là máu. Khoảng 1 giờ 30 sáng mồng Ba Tết, ngoài trời tối om. Thằng Tùy kéo vai tôi gợi ý: “Còn chút dăm bông của bà già cho, ăn trớt. Mai chắc chi ăn được”. Tôi thò tay vào cái túi ở đầu nằm, lấy lọ dăm bông đưa Tùy chia cho mỗi đứa một chút bỏ vào miệng. Những buổi chiều tà, lành lạnh, bụng muốn ăn, tôi lại mơ một cái bánh mì nóng giòn, trong ruột bánh mì là dăm bông cá thu. Nghĩ về thôi, thoáng nghe mùi thơm của ký ức. Đó là lúc bình yên, thi vị nhất để nghĩ về mạ tôi - với tôi, mạ là một kỳ quan tuyệt đẹp.
Ngô bấm vào hông làm tôi giật thót người: Có gì không?
- Hình như có ánh đèn pin.
Nằm im ! Coi chừng trật tự khỏ u đầu - Tôi dặn.
Từ chiều mồng Hai, có lẽ thấy tình hình bất an, chủ ngục lệnh cho trật tự dồn tù phòng I vào phòng B và phòng O - hai phòng đối diện nhau; gần cổng nhà lao nhất. Mọi người nằm rạp xuống sạp. Mấy phút im lặng trôi qua, lại một ánh đèn pin lập lòe. Lần này, ánh đèn chói hơn.
- Anh chị em nghe đây. Quân khởi nghĩa vào giải phóng cho anh em.
Anh em nằm gần cửa nghe rõ. Không phải giọng Huế, không phải giọng Quảng, là giọng Bắc. Không ai dám tin.
- Coi chừng chúng nó lừa mình đó! - Hình như là lời của Trần Đình Đông - sinh viên MPC, nằm cách Ngô một người.
Một phút trôi qua. Người mang thông điệp lại thông báo lần thứ hai:
- Anh chị em nghe đây! Anh ta vừa nói, vừa đưa ánh đèn pin pha lên mặt mình, rồi đưa pin rọi lên ống tay áo anh, nơi có chiếc băng xanh - đỏ - biểu hiện đây là quân Giải phóng - Bộ đội vào giải phóng cho anh em, chuẩn bị sẵn sàng thoát ra... Người đi theo anh cạy ống khóa cửa nghe lắc cắc.
Tức thì, như một phản ứng dây chuyền, tất cả các phòng vang lên tiếng reo hò mừng vui không tả được: Giải phóng! Giải phóng rồi anh em ơi!
Một sức mạnh kỳ lạ của hai tiếng Giải phóng giúp anh em phá banh các cửa nhà giam, ào ra kín sân nhà lao, tay bắt mặt mừng, nước mắt tràn mi, nghẹn lời...

Tác giả trước bảng công nhận Di tích lịch sử quốc gia Lao Thừa Phủ.
Vào khoảng 2 giờ sáng. Tôi nghe rõ hơn tiếng đại liên nổ từng tràng ở phía cầu Bạch Hổ. Những đường đạn sáng lòe từ phía cửa Thượng Tứ, rạch sáng trên mặt sông Hương phẳng lờ... Cả Huế hừng hực không khí khởi nghĩa. Biết em đang ở đâu, giữa đêm Xuân rực lửa đạn! Tôi nhớ khóm hoa em tặng - Forget me not. Cảm ơn em. Ánh sáng một ngày mới soi rõ mặt người. Anh chị em tù thoát khỏi phòng giam, dìu nhau bò ra khỏi khu vực nhà lao, bò qua con đường nhựa, ngay sau bức tường Trường Đồng Khánh, tiến về chùa Từ Đàm...
Từ dốc Nam Giao, tôi sững nhìn viên kim cương đỏ chói nhô lên trên đỉnh Thánh giá nhà thờ Phú Cam, tỏa ánh nắng rực rỡ -‘‘Viên kim cương lớn nhất chính là Mặt trời - may mắn thay, nó chiếu sáng cho tất cả mọi người’’, cấp miễn phí cho tất cả mọi người một liều thuốc bổ để sống - là lời vua hề Charlie Charpline viết cho con gái...
Tiếng súng lại rộ lên bên Thành nội, chợ Đông Ba... Khi được nhìn ánh sáng mặt trời, tôi mới biết đó là tiếng súng của mùa Xuân Tổng tấn công và nổi dậy, diễn ra toàn miền Nam Việt Nam. Không biết lúc này mạ tôi đang ở Hội An,Tam Kỳ, Đà Nẵng hay Sài Gòn...
Chuyện đã qua lâu lắm rồi,
Em cũng đã rất xa xăm…
Nguồn CAĐN: https://cadn.com.vn/mua-xuan-mang-ten-tu-do-post336994.html











