Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, phát triển thị trường vốn đáp ứng yêu cầu tăng trưởng
Hiệu quả sử dụng vốn tại Việt Nam còn thấp, trong khi thị trường vốn vẫn chưa đủ mạnh để trở thành kênh huy động vốn chính yếu cho doanh nghiệp. Đây là hai điểm nghẽn cơ bản cần được giải quyết sớm để phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững...
Hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế
Theo Tiến sĩ Nguyễn Hải Nam (Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội), hệ số sử dụng vốn (ICOR) của Việt Nam hiện ở mức khoảng 6,4. Theo nguyên lý, ICOR càng thấp thì hiệu quả đầu tư (hiệu quả sử dụng vốn) càng cao, số vốn cần thiết cho tăng trưởng sẽ giảm.
Tiến sĩ Nguyễn Hải Nam phân tích, nếu giảm được ICOR xuống mức khoảng 4,5, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 40% tổng sản phẩm trong nước (GDP), tương đương hơn 200 tỷ USD. Điều này đặt ra yêu cầu vừa phải huy động đủ nguồn lực vừa phải sử dụng vốn hiệu quả hơn.

Khách hàng giao dịch tại Công ty Cổ phần Chứng khoán MB (MBS). Ảnh: THU NGA
Mục tiêu nước ta đặt ra trong giai đoạn 2026-2030 là giảm ICOR xuống mức 4,5-4,8. Trong khi thực tế, ICOR giai đoạn 2016-2020 ở mức 6,77; giai đoạn 2021-2025 giảm xuống 6,43, mức giảm còn chậm. Vì vậy, để đạt mục tiêu đề ra cần có các giải pháp mang tính đột phá, xử lý căn cơ những tồn tại kéo dài trong phân bổ và sử dụng vốn đầu tư.
Phân tích về vấn đề này, đại biểu Nguyễn Như So (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh) đã nêu ra một nghịch lý: Tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới khoảng 146%, nhưng nền kinh tế vẫn thiếu vốn trung và dài hạn. Nguyên nhân chủ yếu là do sự lệch pha kỳ hạn, khi hệ thống ngân hàng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu dài hạn. Tình trạng “lấy ngắn nuôi dài” vừa gây áp lực thanh khoản vừa khiến dòng vốn chưa chảy vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao. Đây là một trong những nguyên nhân khiến ICOR duy trì ở mức cao, buộc nền kinh tế phải bỏ ra nhiều vốn hơn để đạt cùng một mức tăng trưởng.
Do vậy, cần tái cấu trúc cơ chế dẫn vốn; chính sách tiền tệ chuyển từ nới lỏng tổng lượng sang định hướng dòng vốn có mục tiêu, ưu tiên cho sản xuất, lĩnh vực tạo giá trị thực, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Đại biểu Lê Hoàng Anh (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai) nêu rõ, khu vực tư nhân hiện phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, chiếm khoảng 80% nguồn vốn. Tuy nhiên, tín dụng lại có xu hướng tập trung vào lĩnh vực bất động sản. Dư nợ tín dụng bất động sản tăng nhanh trong những năm gần đây, cao hơn nhiều so với các lĩnh vực sản xuất. Trong khi đó, lĩnh vực này chưa tạo ra giá trị xuất khẩu và việc làm bền vững tương xứng. Việc dòng vốn tập trung vào lĩnh vực đầu cơ thay vì sản xuất, công nghệ là nguyên nhân làm giảm hiệu quả đầu tư, kéo dài tình trạng ICOR cao.
Bên cạnh đó, quản lý đầu tư công cũng còn một số vấn đề tồn tại như tình trạng dàn trải, chuẩn bị dự án chưa tốt, phân bổ vốn chậm. Để khắc phục cần cắt giảm những dự án kém hiệu quả, tăng cường kỷ luật đầu tư, đồng thời ứng dụng chuyển đổi số để quản lý toàn bộ quá trình đầu tư công.
Phát triển thị trường vốn, giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng
Về các kênh dẫn vốn, các chuyên gia cho rằng hiện nay, nền kinh tế chủ yếu dựa vào hai kênh là tín dụng ngân hàng và thị trường vốn. Trong đó, tín dụng ngân hàng đang chịu áp lực lớn với tỷ lệ tín dụng/GDP cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Do đó, việc phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu và cổ phiếu là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Để phát triển thị trường trái phiếu cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Hoàn thiện hành lang pháp lý theo hướng đồng bộ, phù hợp thực tiễn; nâng cao tính công khai, minh bạch, khuyến khích xếp hạng tín nhiệm; phát triển nhà đầu tư tổ chức và các định chế trung gian; đa dạng hóa sản phẩm, thúc đẩy trái phiếu xanh, trái phiếu chính quyền địa phương; nâng cao hiệu quả thị trường thứ cấp, tăng thanh khoản và xây dựng đường cong lợi suất.
Tiến sĩ Nguyễn Hải Nam đề xuất nghiên cứu thí điểm thành lập các quỹ đầu tư quốc gia nhằm chủ động nguồn lực đầu tư vào những lĩnh vực quan trọng như hạ tầng, công nghệ cao, năng lượng sạch.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, thị trường tiền tệ chủ yếu cung cấp vốn ngắn hạn, trong khi nhu cầu vốn dài hạn phải dựa vào thị trường vốn. Thị trường cổ phiếu thời gian qua đã có bước phát triển tích cực, thị trường trái phiếu Chính phủ tiếp tục huy động nguồn lực đáng kể cho nền kinh tế. Tuy nhiên, để thị trường vốn phát triển bền vững cần cải cách đồng bộ từ thể chế, hạ tầng đến các thành viên thị trường, trong đó có vai trò quan trọng của các tổ chức trung gian tài chính, giúp nâng cao niềm tin của nhà đầu tư.
Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nêu rõ, Chính phủ đang chỉ đạo phát triển mạnh mẽ thị trường chứng khoán, phấn đấu đến năm 2028, quy mô vốn hóa đạt khoảng 120% GDP, qua đó trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế, của doanh nghiệp và chia sẻ gánh nặng với các ngân hàng. “Hiện nay, nguồn vốn trung, dài hạn của doanh nghiệp vẫn tập trung chủ yếu từ nguồn vốn của ngân hàng”, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nêu thực tế.
Rõ ràng, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra không phải chỉ là chuyện huy động thêm nguồn lực càng nhiều càng tốt mà đi kèm với đó là phải nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn. Việc giảm hệ số ICOR, phát triển thị trường vốn, tái cấu trúc dòng tín dụng, không để dòng tín dụng "chảy sai chỗ"-như cách nói của đại biểu Lê Hoàng Anh-cần được triển khai đồng bộ, gắn với nâng cao kỷ luật đầu tư và trách nhiệm giải trình. Đây là những điều kiện quan trọng để bảo đảm tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao chất lượng nền kinh tế trong giai đoạn mới.











