Nếu quy định cứng nhắc trong luật sẽ không tạo sự chủ động cho Ngân hàng Nhà nước trong điều hành
Phát biểu thảo luận tại tổ Đoàn ĐBQH TP. Hồ Chí Minh về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước, liên quan đến quy định 'áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn khác so với mức quy định...', đại biểu Nguyễn Thanh Tùng cho rằng nếu quy định quá cứng nhắc, cụ thể ngay trong luật sẽ gây khó khăn cho quá trình vận hành, đồng thời hạn chế tính chủ động của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành.

Đại biểu Nguyễn Thanh Tùng phát biểu thảo luận tại tổ Đoàn ĐBQH TP. Hồ Chí Minh
Trước đó, góp ý về Điều 59 của dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước quy định "áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn khác so với mức quy định để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng phải xây dựng và thực hiện lộ trình để bảo đảm tuân thủ mức quy định...", đại biểu Đỗ Đức Hiển (Đoàn ĐBQH TP. Hồ Chí Minh) đề nghị cần quy định rõ mức tỷ lệ an toàn được áp dụng trong từng trường hợp.
Làm rõ hơn bản chất của quy định này, đại biểu Nguyễn Thanh Tùng cho biết, hoạt động ngân hàng có rất nhiều tỷ lệ an toàn, tương ứng với từng lĩnh vực và từng nhóm chỉ tiêu khác nhau. Đối với các tổ chức tín dụng thuộc diện thanh tra, giám sát hoặc kiểm soát đặc biệt, nếu luật quy định cứng nhắc các tỷ lệ này sẽ rất khó triển khai trên thực tế, đồng thời làm giảm tính chủ động của Ngân hàng Nhà nước trong việc áp dụng các tỷ lệ an toàn phù hợp nhằm hỗ trợ tổ chức tín dụng vượt qua giai đoạn mất an toàn, phục hồi và phát triển.
Dẫn chứng từ thực tiễn hoạt động của ngân hàng thương mại, đại biểu Nguyễn Thanh Tùng cho biết ngân hàng của ông đang được giao nhận chuyển giao bắt buộc một ngân hàng yếu kém (ngân hàng 0 đồng), trong khi vốn chủ sở hữu của ngân hàng này đã âm.
"Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, tỷ lệ cấp tín dụng đối với một khách hàng không vượt quá 10 - 15% và không quá 25% đối với một khách hàng cùng người có liên quan, được giảm dần theo lộ trình 5 năm kể từ năm 2024. Tuy nhiên, đối với các ngân hàng yếu kém được chuyển giao bắt buộc, khi vốn chủ sở hữu đã âm thì lấy cơ sở nào để tính toán và áp dụng các tỷ lệ cấp tín dụng này?", đại biểu nêu vấn đề.
Đại biểu cũng dẫn thêm ví dụ về quy định tỷ lệ tối đa sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Theo ông, trong bối cảnh hiện nay, việc điều hành tỷ lệ này vẫn cần được điều chỉnh linh hoạt để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Vì vậy, đại biểu đề nghị Quốc hội ủng hộ quy định theo hướng tạo dư địa linh hoạt cho Ngân hàng Nhà nước trong điều hành. Nếu quy định quá chi tiết, cứng nhắc trong luật thì khi phát sinh rủi ro thanh khoản cần xử lý khẩn cấp sẽ phải trình qua nhiều cấp có thẩm quyền để quyết định, dẫn đến không bảo đảm tính kịp thời.
Đối với nội dung liên quan đến Luật Ngân hàng Nhà nước, có một sửa đổi cũng rất quan trọng đó là bổ sung trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước trong việc lập, theo dõi và phân tích trạng thái đầu tư quốc tế của Việt Nam. Theo đại biểu Nguyễn Thanh Tùng, đây là nội dung rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi chúng ta đang phải huy động nguồn vốn ngoại rất nhiều dưới các hình thức khác nhau như đầu tư trực tiếp (FDI), đầu tư gián tiếp (FII), vay nợ quốc tế... Việc giao cho một cơ quan quản lý nhà nước nâng cao chất lượng kiểm soát luồng tiền này để dự báo các kịch bản kinh tế là hết sức cần thiết trong thời gian tới.
Về Luật Phòng, chống rửa tiền có quy định rất mới là bổ sung dịch vụ tài sản mã hóa vào đối tượng báo cáo về phòng, chống rửa tiền, đại biểu Nguyễn Thanh Tùng cho biết, hiện nay Việt Nam đang nằm trong “danh sách xám” của Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính quốc tế (FATF). Vì thế, đây là quy định rất cấp thiết để chúng ta nâng cao tính bao trùm về các đối tượng, loại hình kiểm soát, tuân thủ quy định quốc tế về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đây là việc cần thiết để cải thiện xếp hạng tuân thủ kỹ thuật của Việt Nam trong đợt rà soát đa phương vào năm 2028 tới đây.
Tuy nhiên, theo đại biểu, quy định trong luật là như vậy nhưng đối với các tổ chức tín dụng khi thực thi là vô cùng vất vả và khó khăn:
Thứ nhất về thách thức về nhận diện rủi ro đối với tài sản mã hóa: Đại biểu cho rằng, tài sản mã hóa có tính phi tập trung, xuyên biên giới và tốc độ giao dịch rất nhanh.

Không khí phiên thảo luận ở tổ Đoàn Đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh
“Tôi nói ví dụ thực tế ở thành phố Hồ Chí Minh có cơ chế đặc thù, bản thân chúng tôi cũng rất muốn cùng các định chế tài chính trong và ngoài nước nghiên cứu để 'tokenize' - tức là mã hóa các tài sản hữu hình thực tế, ví dụ như bất động sản. Trước đây một biệt thự ở Vũng Tàu giá 50 tỷ thì một người phải đầu tư, nay có thể mã hóa để 10 người đầu tư, mỗi người 5 tỷ thì sức hút dòng vốn sẽ tốt hơn, kể cả thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp của cá nhân nước ngoài vào Việt Nam.
Tuy nhiên, việc quản lý tài sản số, tài sản mã hóa này có yếu tố cả trong nước và nước ngoài, tốc độ giao dịch cực nhanh là cái rất khó. Nếu sử dụng các công cụ tài chính truyền thống hiện nay của ngân hàng thì không thể kiểm soát được dòng tiền này. Vì thế, chúng tôi đang phải đầu tư rất mạnh vào công nghệ, phải dùng AI (trí tuệ nhân tạo) để hỗ trợ rà soát dòng tiền tự động, chứ con người làm thủ công truyền thống là không thể làm được. Nên chi phí tuân thủ để thực hiện quy định này trong thời gian tới là rất tốn kém đối với ngân hàng”, đại biểu dẫn chứng.
Thứ hai là thách thức về sự thay đổi liên tục của công nghệ. Đại biểu Nguyễn Thanh Tùng cho biết, các mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ phát triển rất nhanh, khó dự đoán, công nghệ lại tăng cường tính ẩn danh nên quản lý công nghệ này là thách thức lớn.
Thứ ba là sự mâu thuẫn giữa kiểm soát chặt chẽ và trải nghiệm của khách hàng, Theo đại biểu, nếu ngân hàng làm quá chặt thì thời gian giao dịch bị kéo dài, ảnh hưởng trải nghiệm khách hàng, nên phải cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và trải nghiệm khách hàng.
Thứ tư là thách thức về phối hợp và chia sẻ thông tin. Đại biểu cho biết, tài sản phi tập trung nên không thể chỉ một vài tổ chức tín dụng tự kiểm soát được mà cần sự phối hợp liên ngành giữa các cơ quan chức năng trong nước và các tổ chức đối tác quốc tế.
“Nói như thế không có nghĩa là chúng tôi không tích cực triển khai, ngược lại chúng tôi rất mong muốn triển khai tốt việc này để đưa Việt Nam ra khỏi danh sách xám, nâng hạng thị trường thu hút nguồn vốn ngoại, đặc biệt là thị trường tài sản số, tài sản mã hóa đầy tiềm năng trong tương lai”, đại biểu nhấn mạnh.
Về quy định cho phép các tổ chức tín dụng thực hiện chức năng đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp trong Luật Các tổ chức tín dụng, đại biểu Nguyễn Thanh Tùng cho rằng, hiện nay quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm khoảng 10% GDP, quá thấp so với các nước trong khu vực (Thái Lan là 23%, Malaysia là 53%, Trung Quốc là 38%). Trong khi đó, dư nợ tín dụng ngân hàng đã lên tới 145% GDP là quá lớn.
Nguồn vốn huy động của ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn mà phải cho vay trung, dài hạn nhiều thì rủi ro cho hệ thống, nên cần phát triển thị trường trái phiếu để hỗ trợ.
Thời gian qua, nhà đầu tư không mặn mà với trái phiếu doanh nghiệp chủ yếu vì lý do tài sản bảo đảm. Ví dụ trái phiếu cho dự án bất động sản nhưng bản thân bất động sản đó lại không được thế chấp tại các đơn vị cung cấp dịch vụ trái phiếu hiện nay như công ty chứng khoán (họ không được nhận tài sản bảo đảm là bất động sản hay tài sản hình thành từ vốn vay làm biện pháp bảo đảm), dẫn đến không thu hút được nhà đầu tư.
“Khi các ngân hàng thương mại được nhận làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm rồi thì chắc chắn sẽ tạo sự yên tâm hơn cho nhà đầu tư, tác động rất tốt cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển trong thời gian tới”, đại biểu Nguyễn Thanh Tùng nhấn mạnh.












